Hai mươi hai câu · Theo Can và Chi ngày
Bành Tổ bách kỵ
Bành Tổ kỵ nhật · Câu kiêng theo Can Chi ngày
Bành Tổ bách kỵ là gì
Mở bất kỳ quyển lịch vạn niên nào, dưới phần can chi của ngày thường có hai dòng chữ Hán-Việt ngắn, đọc lên nghe như câu vè: “Giáp bất khai thương”, “Tý bất vấn bốc”. Đó là Bành Tổ bách kỵ — bộ câu kiêng dân gian gắn với Thiên Can và Địa Chi của ngày.
Mỗi ngày mang một Can và một Chi, nên luôn có đúng hai câu: một câu theo Can, một câu theo Chi. Ghép lại thành lời nhắc của ngày hôm ấy. Tên gọi mượn từ Bành Tổ — nhân vật trường thọ trong truyền thuyết phương Đông — như một cách gán cho bộ câu ấy sức nặng của kinh nghiệm lâu đời, chứ không phải vì ông là tác giả.
Mười câu theo Thiên Can
Giáp bất khai thương — ngày Giáp, dân gian xưa kiêng mở kho, xuất tiền của lớn.
Ất bất tài thực — ngày Ất, kiêng trồng cây cối vì e khó lớn.
Bính bất tu táo — ngày Bính, kiêng sửa bếp, do bếp thuộc hành Hoả mà Bính cũng là Hoả.
Đinh bất thế đầu — ngày Đinh, kiêng cắt tóc.
Mậu bất thụ điền — ngày Mậu, kiêng nhận ruộng đất.
Kỷ bất phá khoán — ngày Kỷ, kiêng xé bỏ văn tự, khế ước.
Canh bất kinh lạc — ngày Canh, kiêng dệt cửi, mắc sợi.
Tân bất hợp tương — ngày Tân, kiêng làm tương, ủ men.
Nhâm bất quyết thuỷ — ngày Nhâm, kiêng khơi thông dòng nước.
Quý bất từ tụng — ngày Quý, kiêng thưa kiện.
Mười hai câu theo Địa Chi
Tý bất vấn bốc — ngày Tý, kiêng bói toán, cầu quẻ.
Sửu bất quan đái — ngày Sửu, kiêng nhận chức, đội mũ áo.
Dần bất tế tự — ngày Dần, kiêng cúng tế.
Mão bất xuyên tỉnh — ngày Mão, kiêng đào giếng.
Thìn bất khốc khấp — ngày Thìn, kiêng khóc lóc than vãn.
Tỵ bất viễn hành — ngày Tỵ, kiêng đi xa.
Ngọ bất tô cái — ngày Ngọ, kiêng lợp mái nhà.
Mùi bất phục dược — ngày Mùi, kiêng uống thuốc thang.
Thân bất an sàng — ngày Thân, kiêng kê giường mới.
Dậu bất hội khách — ngày Dậu, kiêng mời khách, mở tiệc.
Tuất bất khiết cẩu — ngày Tuất, kiêng làm chuồng hay nuôi thêm chó.
Hợi bất giá thú — ngày Hợi, kiêng cưới gả.
Đọc bách kỵ thế nào cho đúng
Bách kỵ là lệ kiêng của dân gian, không phải phép trạch nhật. Nó không tham gia vào việc chấm một ngày là tốt hay xấu, cũng không đối chiếu với tuổi của ai. Vì vậy một ngày vẫn có thể là ngày hoàng đạo, trực tốt, mà đồng thời mang một câu kiêng — hai lớp ấy nói về hai chuyện khác nhau.
Phạm vi mỗi câu cũng hẹp hơn vẻ ngoài của nó. “Canh bất kinh lạc” sinh ra trong đời sống của nghề dệt; đem nó áp vào một hợp đồng thời nay là mở rộng quá xa điều người xưa muốn nói. Cách đọc chừng mực là xem mỗi câu như một ghi chú về nếp sinh hoạt cũ — biết để hiểu quyển lịch trong tay mình, chứ không phải để dựng thành điều cấm.
Vì sao bách kỵ vẫn được in tới hôm nay
Phần lớn hai mươi hai câu gắn với những việc rất cụ thể của xã hội nông nghiệp: mở kho, mắc cửi, ủ tương, đào giếng, lợp mái. Chúng còn được in không phải vì ai cũng còn làm những việc ấy, mà vì chúng là một mảnh ký ức về cách người xưa sắp xếp thời gian và công việc trong năm.
Đọc theo lối ấy thì bách kỵ trở nên dễ chịu: nó không dặn bạn phải làm gì, nó cho thấy một ngày trong lịch từng được nhìn bằng con mắt nào.
Tái bản và biên soạn bởi Tác giả Admin — nội dung được tái bản trên cơ sở kiến thức và thực nghiệm Huyền Học của tác giả.
Ứng vào ngày của bạn
Bành Tổ bách kỵ ứng vào ngày bạn định chọn ra sao?
Trang này nói Bành Tổ bách kỵ nói chung. Muốn biết một ngày cụ thể có hợp việc bạn định làm không thì còn phải xét cùng lúc trực, sao nhị thập bát tú, hoàng đạo và tuổi của bạn — ứng dụng gộp hết lại cho từng ngày.
Trong ứng dụng còn:
- Ngày bạn định làm việc có phạm câu kiêng nào không, và việc ấy có thật sự thuộc phạm vi câu kiêng ấy 130 chữ
- Khi bách kỵ và các lớp trạch nhật khác nói ngược nhau thì cân theo bên nào 110 chữ
Tổng cộng 240 chữ nữa về Bành Tổ bách kỵ, ứng vào đúng ngày và tuổi của bạn.
