Bỏ qua trình đơn

Khái niệm

Tam Kỳ và Lục Nghi

三奇六儀 (Tam Kỳ Lục Nghi)

Là gì

Tam Kỳ và Lục Nghi là chín phù hiệu nằm ở tầng Địa Bàn, tầng dưới cùng và cũng là tầng nền của tấm bàn Kỳ Môn. Chúng lấy từ mười thiên can. Ba chữ Ất, Bính, Đinh được gọi là Tam Kỳ (三奇), nghĩa là ba điều kỳ diệu. Sáu chữ Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý được gọi là Lục Nghi (六儀), nghĩa là sáu nghi trượng, sáu đồ nghi lễ theo hầu. Còn chữ Giáp, chữ đứng đầu mười can và tôn quý nhất, thì không xuất hiện trên bàn: Giáp ẩn mình sau sáu chữ Nghi. Chính chỗ ẩn ấy cho môn này cái tên Độn Giáp, nghĩa là Giáp lẩn đi.

Ý nghĩa cốt lõi

Tầng Địa Bàn là hoàn cảnh sẵn có, là đất đai và vốn liếng mà việc của bạn đang đứng lên trên đó. Sao đổi theo thời, cửa đổi theo việc, còn tầng nền này giữ nguyên trong suốt một quẻ. Vì vậy nó trả lời câu hỏi về nền móng: bối cảnh vốn dĩ lành hay dữ, chỗ dựa nằm ở đâu, chướng ngại đã có sẵn từ trước ở chỗ nào. Tam Kỳ là ba chỗ lành nhất trên nền ấy, người xưa ví như ba nguồn sáng của trời soi cho kẻ đi đêm.

Đi sâu hơn

Vì sao ba chữ Ất, Bính, Đinh lại quý đến thế? Người xưa gắn chúng với mặt trời, mặt trăng và các vì sao, ba thứ soi đường cho người đi trong đêm. Trong một việc bí bách, Tam Kỳ là chỗ có ánh sáng: có người giúp, có kẽ hở, có đường lui. Còn sáu chữ Nghi là đội tùy tùng che cho vị chủ tướng Giáp, chúng làm nên bộ khung của tầng nền, phần lớn mang tính trung tính, trong đó có chữ nâng đỡ và có chữ gây khó. Đọc tầng nền chính là đọc xem việc của bạn đang đứng trên đất tốt hay đất cằn, trước cả khi bàn tới chuyện bạn sẽ làm gì.

Biểu hiện thực tế

Ất (乙) là Nhật Kỳ, ánh mặt trời; hành Mộc âm, mềm mà dẻo, ứng vào cây cỏ, vào người phụ nữ, vào sự uyển chuyển, vào thuốc men và những gì sống dậy từ từ. Bính (丙) là Nguyệt Kỳ; hành Hỏa dương, ứng vào lửa lớn, uy quyền, sự bùng lên, việc công khai rực rỡ, cũng ứng vào chuyện nóng nảy binh đao. Đinh (丁) là Tinh Kỳ, ánh sao; hành Hỏa âm, ứng vào ngọn đèn, vào tin tức, vào người con gái, vào sự soi sáng lặng lẽ trong đêm. Ba chữ này gặp ở đâu thì chỗ đó có phần cứu, có lối mở. Sáu chữ Nghi thì mỗi chữ một tính.

Mậu (戊) hành Thổ dương, tượng đất lớn, tiền vốn, thành lũy. Kỷ (己) hành Thổ âm, tượng đất ruộng, chỗ kín, cũng tượng sự lấp liếm. Canh (庚) hành Kim dương, tượng đao kiếm, cản trở, kẻ đối đầu và chuyện tranh chấp. Tân (辛) hành Kim âm, tượng vàng bạc trang sức, cũng tượng lỗi lầm cũ. Nhâm (壬) hành Thủy dương, tượng sông lớn, sự trôi nổi và mưu chước. Quý (癸) hành Thủy âm, tượng mưa, nước mắt và việc mờ tối chưa rõ.

Lời khuyên

Khi mới học, nhớ ba chữ Kỳ trước: Ất mềm, Bính sáng, Đinh ấm. Gặp ba chữ này trong một câu chuyện đang bế tắc thì đừng buông sớm, vì bao giờ cũng còn một lối ra. Với sáu chữ Nghi, nhớ hai chữ dễ gây phiền nhất là Canh và Quý: một chữ báo có người chắn đường, một chữ báo tình hình còn mờ chưa nên quyết. Bốn chữ còn lại cứ đọc theo hành của từng chữ mà suy, dần dần sẽ quen tay.

Phân biệt, đừng nhầm

Đừng nhầm chín phù hiệu này với chín ngôi sao hay tám cửa. Sao là thời thế, cửa là hành động, còn Tam Kỳ Lục Nghi là chất đất. Cũng đừng nghĩ hễ thấy Lục Nghi là xấu: sáu chữ ấy chỉ là hoàn cảnh thường ngày, có chữ giúp có chữ cản, chứ không phải bậc hung như một số cửa và sao.

Câu hỏi thường gặp

Tam Kỳ là những chữ nào?

Tam Kỳ gồm ba chữ Ất, Bính, Đinh. Ất là Nhật Kỳ tức ánh mặt trời, Bính là Nguyệt Kỳ, Đinh là Tinh Kỳ tức ánh sao. Đây là ba phù hiệu lành nhất ở tầng nền, gặp ở đâu thì chỗ đó có lối mở.

Lục Nghi gồm những chữ nào?

Lục Nghi gồm sáu chữ Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, tức sáu chữ còn lại của mười thiên can sau khi trừ Giáp và ba chữ Kỳ. Nghi nghĩa là nghi trượng, là đội tùy tùng theo hầu vị chủ tướng.

Vì sao gọi là Độn Giáp?

Vì chữ Giáp đứng đầu mười thiên can, tôn quý nhất nên không lộ diện trên bàn mà ẩn mình sau sáu chữ Nghi. Độn nghĩa là lẩn đi, trốn đi; Độn Giáp tức là Giáp giấu mình, giống chủ tướng ngồi trong trướng chứ không ra trận.

Ất Bính Đinh mang ý nghĩa gì trong đời thật?

Ất mềm dẻo, ứng vào cây cỏ, phụ nữ, thuốc men và sự hồi phục từ từ. Bính rực rỡ, ứng vào uy quyền, lửa lớn, việc công khai. Đinh ấm áp lặng lẽ, ứng vào ngọn đèn, tin tức và sự soi sáng trong đêm tối.

Chữ Canh trong Lục Nghi báo điều gì?

Canh thuộc Kim dương, tượng đao kiếm nên báo sự cản trở, kẻ đối đầu và chuyện tranh chấp. Gặp chữ này trong việc đang hỏi thì nên lường trước một người hoặc một thủ tục chắn ngang đường, chuẩn bị sẵn đường vòng.

Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong

Ứng vào việc của bạn

Tam Kỳ và Lục Nghi ứng vào đúng việc bạn hỏi

Dựng lá bàn theo đúng giờ đặt câu hỏi thì biết Tam Kỳ và Lục Nghi rơi vào cung nào, tụ cùng cửa nào sao nào, và ứng vào việc gì.

  • Lá bàn dựng theo đúng giờ bạn đặt câu hỏi
  • Cung ứng vào việc bạn hỏi và những gì đang tụ ở đó
  • Hướng nên đi và thời điểm nên khởi sự
  • Điều đang cản và cách gỡ theo đúng thế cục ấy

Đọc thêm về Kỳ Môn Độn Giáp