Bỏ qua trình đơn

Lời nguyện

Văn khấn cầu tự (cầu con)

Đến bài khấn Bản ngắn gọn

Ý nghĩa

Cầu tự là lễ khấn xin con cái; chữ “tự” ở đây nghĩa là nối dõi. Theo quan niệm xưa, có con để nối dõi tông đường, giữ hương khói tổ tiên là việc hệ trọng của mỗi nhà. Vợ chồng lấy nhau đã lâu mà chưa có con, hoặc mong có thêm con, thường sắm lễ đi chùa, đến đền Mẫu cầu tự, rồi về nhà thắp hương thưa với tổ tiên.

Trong tín ngưỡng người Việt, Phật Bà Quan Âm là vị Bồ Tát cứu khổ, được dân gian cầu xin về đường con cái. Nhiều chùa miền Bắc có tượng Quan Âm Thị Kính bế con, dân gian gọi là Quan Âm Tống Tử, nghĩa là Quan Âm đưa con đến. Ở đền, phủ thờ Mẫu, người ta cầu Tam Tòa Thánh Mẫu và chư vị Tiên Nương, mười hai bà Mụ, những vị mà dân gian tin là trông coi việc sinh nở, nặn hình hài và dạy trẻ.

Những nơi nhiều người tìm đến cầu tự có thể kể: chùa Hương (Hà Nội), nơi trong động Hương Tích có những khối đá dân gian gọi là núi Cô, núi Cậu; đền Mẫu Âu Cơ (Phú Thọ); cùng nhiều chùa làng, đền Mẫu ở các địa phương. Khi đã có con, lễ tạ lúc con tròn một tháng thì dùng bài Văn khấn đầy tháng (cúng Mụ).

Thời điểm cúng

Theo nếp phổ biến, vợ chồng đi lễ cầu tự vào ngày mùng Một, ngày Rằm, dịp đầu năm, hoặc các ngày vía Quan Âm: 19 tháng Hai, 19 tháng Sáu và 19 tháng Chín âm lịch. Mùa lễ hội chùa Hương mở từ mùng 6 tháng Giêng, kéo dài đến khoảng tháng Ba âm lịch.

Ở đền, phủ thờ Mẫu, nhiều người đi lễ vào tháng Ba âm lịch, tháng giỗ Mẫu theo câu “tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”. Tại nhà, vợ chồng thắp hương thưa với tổ tiên trước khi đi lễ, buổi sáng hoặc buổi tối đều được.

Cách sắm lễ

Lễ cầu tự ở chùa là lễ chay: hương, hoa tươi, quả, oản, xôi chè, bánh kẹo. Không đặt đồ mặn và vàng mã lên ban Phật. Lễ dâng ban Mẫu, ban Tiên Nương có thể thêm trầu cau, rượu, nước, bánh kẹo và ít vàng mã; nhiều đền có người viết sớ giúp, ghi tên tuổi vợ chồng và việc cầu.

Tại nhà, lễ thưa với tổ tiên đơn giản: hương, hoa, quả, trầu cau, nước. Khi có tin vui, theo nếp nhiều gia đình trở lại nơi đã cầu để lễ tạ, lễ vật sắm tương tự lúc cầu, có nhà sắm lễ lớn hơn.

Các bước hành lễ

  1. Thắp hương ban thờ gia tiên ở nhà, thưa với tổ tiên việc vợ chồng đi lễ cầu tự.
  2. Đến chùa hoặc đền, bày lễ và lễ theo thứ tự nơi thờ: ở chùa thường lễ ban Đức Ông, ban Tam Bảo rồi đến điện Mẫu; ở đền, phủ thì lễ ban Công Đồng trước, tùy nơi.
  3. Thắp hương, thường 1 hoặc 3 nén, cắm vào lư hương chung, rồi vợ chồng cùng đứng hoặc quỳ trước ban Phật Bà Quan Âm, ban Mẫu hay ban Tiên Nương.
  4. Vái ba vái rồi đọc bài khấn; một người đọc, người kia chắp tay khấn theo cũng được.
  5. Khấn xong vái ba vái, chờ hương cháy gần hết rồi xin hạ lễ; vàng mã (nếu có) hóa ở nơi nhà đền quy định.
  6. Mang lộc về chia cho người nhà, thắp hương báo với tổ tiên đã đi lễ xong.

Bài khấn đầy đủ

Văn khấn cầu tự (cầu con)

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Nam mô Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn Linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

Con kính lạy Tam Tòa Thánh Mẫu: Mẫu Đệ nhất Thượng Thiên, Mẫu Đệ nhị Thượng Ngàn, Mẫu Đệ tam Thoải Phủ.

Con kính lạy chư vị Tiên Nương, mười hai bà Mụ.

Con kính lạy chư vị Tôn thần cai quản nơi đây.

Tín chủ con là: (họ tên)

Ngụ tại: (địa chỉ)

Hôm nay là ngày (ngày) tháng (tháng) năm (năm), vợ chồng chúng con về (địa điểm) kính cẩn dâng hương cầu tự.

Chúng con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, trà quả, đốt nén hương thơm, dâng lên trước án.

Kính mời chư Phật, chư vị Thánh Mẫu, chư vị Tiên Nương giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành.

Chúng con kính cẩn thưa trình: vợ chồng chúng con kết duyên đã lâu mà đường con cái còn muộn (hoặc: mong có thêm con cho nhà thêm đông vui).

Cúi xin Đức Phật Bà từ bi, chư vị Thánh Mẫu, chư vị Tiên Nương thương xót, ban phúc lành cho vợ chồng con sớm có tin vui.

Cầu cho người mẹ mang thai được mạnh khỏe, đến ngày sinh nở mẹ tròn con vuông.

Con sinh ra được khỏe mạnh, hay ăn chóng lớn, ngoan ngoãn hiếu thảo, nối dõi tông đường, giữ hương khói tổ tiên.

Cầu cho gia đạo bình an, vợ chồng hòa thuận, trên thuận dưới hòa.

Nếu được như lời cầu, vợ chồng chúng con xin trở lại lễ tạ.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Bài khấn ngắn gọn

Văn khấn cầu tự (cầu con)

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Nam mô Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn Linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

Con kính lạy Tam Tòa Thánh Mẫu, chư vị Tiên Nương, mười hai bà Mụ.

Tín chủ con là: (họ tên)

Ngụ tại: (địa chỉ)

Hôm nay là ngày (ngày) tháng (tháng) năm (năm), vợ chồng chúng con thành tâm dâng hương hoa lễ vật, kính lễ cầu tự.

Cúi xin chư vị từ bi thương xót, phù hộ cho vợ chồng con sớm có tin vui, mẹ tròn con vuông, con cái khỏe mạnh, ngoan hiền.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Lưu ý

Lễ ở đâu thì kính lạy các vị được thờ ở đó: ở chùa kính lạy chư Phật và Đức Quán Thế Âm; ở đền, phủ kính lạy Thánh Mẫu, chư vị Tiên Nương; dòng nào không hợp thì bỏ. Khấn tại nhà thì kính lạy thần linh và tổ tiên như bài Văn khấn gia tiên mùng 1, rồi thưa việc cầu tự. Nếu cả hai vợ chồng cùng đứng khấn, người đọc xưng tên mình rồi thưa thêm tên người kia.

Ăn mặc kín đáo, giữ ý tứ nơi thờ tự, không nhét tiền lên tượng hay tay Phật; công đức thì bỏ vào hòm. Đường lên động Hương Tích dốc và trơn, nên đi giày mềm, đi chậm, tránh ngày quá đông. Bên cạnh việc đi lễ, vợ chồng nên đi khám và theo lời khuyên của bác sĩ.

Nội dung trên tham khảo theo phong tục cổ truyền, mang tính tùy tâm; lễ vật và lời khấn có thể khác đôi chút theo vùng miền và nếp riêng của mỗi gia đình.

Bài tụng kèm theo

Các bài tụng thường dùng trong nhà cho lễ này. Mỗi chùa có thể đọc khác nhau vài chữ, nhà theo chùa nào thì đọc theo nghi thức chùa ấy.

Chú Đại Bi

Bài chú gắn với Bồ Tát Quán Thế Âm, nói lên lòng thương rộng lớn. Chú là âm đọc giữ theo tiếng Phạn qua chữ Hán nên không dịch nghĩa từng chữ; người tụng chỉ cần đọc chậm, rõ, lòng yên.

Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần).

Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại Bi tâm đà la ni.

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da.

Nam mô a rị da bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da.

Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da, bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà.

Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha.

Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô, kiết mông độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra.

Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô, ma ra hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha.

Tất đà dạ, ta bà ha.

Ma ha tất đà dạ, ta bà ha.

Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha.

Na ra cẩn trì, ta bà ha.

Ma ra na ra, ta bà ha.

Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha.

Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha.

Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha.

Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha.

Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha.

Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.

Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.

Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.

Án, tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ ta bà ha.

Câu mở đầu đọc ba lần. Nhà thường tụng trọn bài một lần, có nhà tụng ba lần.

Niệm Phật

Những câu xưng danh hiệu Phật và Bồ Tát. Không cần thuộc kinh dài, niệm chậm và thành tâm là được. Mỗi câu thường niệm ba lần.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam mô A Di Đà Phật.

Nam mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.

Mỗi câu niệm ba lần.

Kệ hồi hướng

Bài kệ đọc sau cùng: dâng phần phước lành của buổi tụng niệm cho mọi người, mọi loài, không giữ riêng cho mình.

Nguyện dĩ thử công đức,

Phổ cập ư nhất thiết,

Ngã đẳng dữ chúng sanh,

Giai cộng thành Phật đạo.

Nhiều nhà đọc bằng lời Việt: Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo.

Câu hỏi thường gặp

Cầu tự nên đi chùa hay đền?

Theo phong tục đều được. Ở chùa, người ta cầu Phật Bà Quan Âm; ở đền, phủ thờ Mẫu thì cầu Thánh Mẫu, chư vị Tiên Nương, mười hai bà Mụ. Nhiều người lễ chùa xong thì lễ luôn điện Mẫu trong chùa.

Vợ chồng có cần cùng đi lễ cầu tự không?

Theo nếp, vợ chồng cùng đi, cùng đứng khấn là tốt nhất. Nếu một người không đi được, người đi vẫn khấn và thưa rõ tên cả hai vợ chồng.

Cầu tự vào ngày nào?

Thường là mùng Một, ngày Rằm, tháng Giêng, hoặc các ngày vía Quan Âm: 19 tháng Hai, 19 tháng Sáu, 19 tháng Chín âm lịch.

Có tin vui rồi có phải lễ tạ không?

Theo nếp, nhiều gia đình trở lại nơi đã cầu để lễ tạ; có nhà đợi con đầy tháng hoặc đầy năm mới đưa con đi lễ. Lễ tạ sắm tương tự lễ lúc cầu.

Cầu tự ở nhà được không?

Được. Vợ chồng thắp hương ban thờ gia tiên, kính lạy thần linh và tổ tiên, thưa việc mong con rồi cầu xin như bài trên.

Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong

Ứng vào việc của bạn

Ngày giờ cúng hợp tuổi chủ nhà

Chọn ngày định cúng để biết giờ đẹp, ngày ấy hợp hay xung tuổi chủ nhà, và có bài khấn điền sẵn tên, địa chỉ, ngày âm lịch.

  • Giờ hoàng đạo của đúng ngày bạn định cúng
  • Ngày ấy hợp hay xung với tuổi chủ nhà
  • Bài khấn điền sẵn tên, địa chỉ và ngày âm lịch
  • Hướng tốt để đặt mâm trong ngày ấy