Ý nghĩa
Tam Bảo là ba ngôi báu của đạo Phật: Phật (bậc giác ngộ), Pháp (lời Phật dạy) và Tăng (những người xuất gia tu hành). Ban Tam Bảo là ban thờ chính trong chính điện của chùa, nơi đặt tượng Phật và các vị Bồ Tát. Đi lễ chùa, dâng hương trước ban Tam Bảo là nếp sinh hoạt tín ngưỡng lâu đời của người Việt, gắn với đời sống làng xã qua nhiều thế kỷ.
Ở nhiều chùa miền Bắc, tượng trên ban Tam Bảo xếp thành nhiều lớp: Tam Thế Phật (chư Phật ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai), Phật A Di Đà cùng hai vị Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đức Phật Di Lặc. Theo nếp phổ biến, trước ban Phật người ta cầu bình an, sức khỏe, sáng suốt cho cả nhà; việc cầu làm ăn, tài lộc thường khấn ở ban Đức Ông hoặc ban Mẫu.
Một ngôi chùa thường có nhiều ban thờ. Theo nếp phổ biến, người đi lễ đặt lễ ban Đức Ông trước để xin phép, rồi vào chính điện lễ Tam Bảo, sau đó lễ ban Đức Thánh Hiền, ban Mẫu (nếu chùa có điện Mẫu), cuối cùng là nhà Tổ, nơi thờ các vị sư tổ từng trụ trì chùa. Bài này dùng cho ban Tam Bảo. Nếu bạn lễ các ban kia thì dùng bài Văn khấn Đức Ông, Văn khấn Đức Thánh Hiền hoặc Văn khấn ban Mẫu.
Thời điểm cúng
Người ta thường đi lễ chùa vào ngày mùng Một và ngày Rằm hằng tháng âm lịch, dịp đầu năm (nhất là tháng Giêng), ngày Phật đản (Rằm tháng Tư), lễ Vu Lan (Rằm tháng Bảy) và các ngày vía như vía Quán Thế Âm Bồ Tát (19 tháng Hai, 19 tháng Sáu, 19 tháng Chín âm lịch), vía Phật A Di Đà (17 tháng Mười một âm lịch). Ngày thường cũng có thể đi lễ khi trong nhà có việc muốn cầu bình an.
Nên đi vào buổi sáng hoặc đầu giờ chiều, lúc chùa mở cửa đón khách. Tránh đặt lễ, khấn to đúng lúc nhà chùa đang tụng kinh hoặc giờ ngọ trai (bữa trưa của các sư). Mùng Một, Rằm tháng Giêng chùa rất đông, bạn có thể đi trước một hai ngày; lễ chùa không bắt buộc phải đúng ngày.
Cách sắm lễ
Lễ dâng ban Tam Bảo là lễ chay, gồm: hương, hoa tươi (hoa sen, hoa huệ, hoa cúc, hoa ngọc lan và các loài hoa thơm), quả tươi (mâm ngũ quả hoặc vài loại quả), oản (bánh làm từ gạo nếp, nén thành khối chóp), xôi, chè, bánh kẹo và chén nước sạch. Không đặt đồ mặn như gà, giò, chả, thịt, cá, và không đặt rượu lên ban Phật.
Không đặt tiền vàng, đồ mã lên ban Phật. Nếu có sắm tiền vàng thì theo nếp phổ biến đặt ở ban Đức Ông hoặc ban Mẫu, tùy lệ từng chùa. Tiền công đức (còn gọi là tiền giọt dầu, tịnh tài) nên bỏ vào hòm công đức, không cài lên tay tượng, không rải lên ban thờ.
Lễ bày vào đĩa, mâm hoặc khay, đặt lên bàn lễ phía trước ban Tam Bảo hoặc chỗ nhà chùa chỉ, không trèo lên bệ tượng để đặt. Nhiều chùa có bàn nhận lễ riêng và lư hương chung ngoài sân, bạn làm theo hướng dẫn của nhà chùa.
Các bước hành lễ
- Sắm lễ chay, bày gọn vào đĩa hoặc khay; nếu có lễ cho ban Đức Ông, ban Mẫu thì chia riêng từng phần.
- Đặt lễ và thắp hương ở ban Đức Ông trước để xin phép, khấn theo bài Văn khấn Đức Ông.
- Đặt lễ chay lên bàn lễ trước ban Tam Bảo, thắp 1 hoặc 3 nén hương (chùa có lư hương chung thì cắm vào đó).
- Đứng ngay ngắn hoặc quỳ trên chiếu, chắp tay vái ba vái, đọc bài khấn, xong lạy ba lạy hoặc vái ba vái.
- Lễ tiếp ban Đức Thánh Hiền, ban Mẫu (nếu có) và nhà Tổ, mỗi ban thắp hương, vái và khấn.
- Chờ hết tuần hương (lúc hương cháy gần hết), trở lại vái tạ ở ban Tam Bảo rồi hạ lễ; có thể để lại một phần lễ cho nhà chùa và bỏ tiền công đức vào hòm.
- Mang lễ về chia cho người nhà cùng thụ lộc; theo quan niệm dân gian, lộc chùa là lộc lành.
Bài khấn đầy đủ
Văn khấn lễ chùa (ban Tam Bảo)
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
Con kính lạy Đức Phật A Di Đà, giáo chủ cõi Tây phương Cực Lạc.
Con kính lạy Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính lạy Đức Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật.
Con kính lạy Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, Đức Đại Thế Chí Bồ Tát.
Con kính lạy chư vị Bồ Tát, chư vị Hiền Thánh Tăng, chư vị Hộ Pháp Thiện Thần.
Tín chủ con là: (họ tên)
Ngụ tại: (địa chỉ)
Hôm nay là ngày (ngày) tháng (tháng) năm (năm), tín chủ con thành tâm về chùa (tên chùa), kính lễ trước Phật đài nơi điện Tam Bảo.
Tín chủ con kính dâng hương hoa, oản quả, phẩm vật lễ chay, dâng cúng Phật, dâng cúng Pháp, dâng cúng Tăng, làm lễ cúng dường Tam Bảo.
Cúi xin chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng rủ lòng từ bi, chứng minh chứng giám tấm lòng thành của tín chủ con.
Nguyện xin Tam Bảo gia hộ cho tín chủ con cùng toàn gia quyến thân tâm an lạc, tật bệnh tiêu trừ, tăng phúc tăng thọ.
Gia đạo bình an, trên thuận dưới hòa, con cháu hiếu thảo, trí tuệ sáng suốt, mọi việc hanh thông.
Nguyện cho tín chủ con thiện căn tăng trưởng, phúc tuệ trang nghiêm, thường được gần gũi Tam Bảo.
Nguyện đem công đức này hồi hướng cho cửu huyền thất tổ, gia tiên nội ngoại được siêu sinh Tịnh độ.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước Phật đài kính lễ, cúi xin chư Phật chứng giám.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Bài khấn ngắn gọn
Văn khấn lễ chùa (ban Tam Bảo)
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
Con kính lạy Đức Phật A Di Đà, Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng.
Tín chủ con là: (họ tên). Ngụ tại: (địa chỉ).
Hôm nay là ngày (ngày) tháng (tháng) năm (năm), tín chủ con về chùa kính dâng hương hoa lễ chay trước điện Tam Bảo.
Cúi xin Tam Bảo từ bi gia hộ cho tín chủ con cùng toàn gia thân tâm an lạc, mạnh khỏe bình an, mọi việc hanh thông.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Lưu ý
Ăn mặc kín đáo khi vào chùa: không mặc quần đùi, váy ngắn, áo hở vai; bỏ mũ nón khi vào chính điện, cởi giày dép nếu chùa trải chiếu hoặc có biển dặn. Nhiều chùa để cửa giữa cho nhà sư, khách đi cửa hai bên. Đi nhẹ, nói khẽ, không chỉ trỏ lên tượng, không chụp ảnh ở nơi nhà chùa không cho chụp.
Khấn bằng giọng nhỏ, vừa đủ mình nghe, hoặc khấn thầm. Ở chùa nhiều người xưng “đệ tử con” thay cho “tín chủ con”, cách nào cũng được. Theo quan niệm dân gian, ban Phật là nơi thanh tịnh nên chỉ dâng lễ chay; lễ mặn, tiền vàng nếu có thì để ở ban Đức Ông hoặc ban Mẫu theo lệ chùa.
Chỉ cắm hương vào bát hương, lư hương, không cắm vào mâm quả hay khe tượng. Muốn tắt lửa ở đầu nén hương thì phẩy nhẹ tay, theo nếp dân gian không thổi bằng miệng. Không tự đốt vàng mã ở sân, gốc cây; chùa có lò hóa riêng.
Nội dung trên tham khảo theo phong tục cổ truyền, mang tính tùy tâm; lễ vật và lời khấn có thể khác đôi chút theo vùng miền và nếp riêng của mỗi gia đình.
Bài tụng kèm theo
Các bài tụng thường dùng trong nhà cho lễ này. Mỗi chùa có thể đọc khác nhau vài chữ, nhà theo chùa nào thì đọc theo nghi thức chùa ấy.
Bát Nhã Tâm Kinh
Bài kinh ngắn và được tụng nhiều nhất trong nhà Phật. Ý chính: mọi thứ đều đổi thay, không có gì đứng yên mãi, hiểu được thế thì lòng bớt bám víu, bớt khổ. Nhà có lễ Phật hay cúng người đã khuất thường tụng bài này trước hoặc sau khi khấn.
Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.
Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức. Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.
Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo.
Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.
Bồ đề tát đõa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.
Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề.
Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.
Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
Câu chú cuối cùng thường đọc ba lần.
Chú Đại Bi
Bài chú gắn với Bồ Tát Quán Thế Âm, nói lên lòng thương rộng lớn. Chú là âm đọc giữ theo tiếng Phạn qua chữ Hán nên không dịch nghĩa từng chữ; người tụng chỉ cần đọc chậm, rõ, lòng yên.
Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần).
Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại Bi tâm đà la ni.
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da.
Nam mô a rị da bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da.
Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da, bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà.
Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha.
Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô, kiết mông độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra.
Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô, ma ra hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha.
Tất đà dạ, ta bà ha.
Ma ha tất đà dạ, ta bà ha.
Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha.
Na ra cẩn trì, ta bà ha.
Ma ra na ra, ta bà ha.
Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha.
Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha.
Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha.
Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha.
Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha.
Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.
Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.
Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.
Án, tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ ta bà ha.
Câu mở đầu đọc ba lần. Nhà thường tụng trọn bài một lần, có nhà tụng ba lần.
Niệm Phật
Những câu xưng danh hiệu Phật và Bồ Tát. Không cần thuộc kinh dài, niệm chậm và thành tâm là được. Mỗi câu thường niệm ba lần.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô A Di Đà Phật.
Nam mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.
Mỗi câu niệm ba lần.
Kệ hồi hướng
Bài kệ đọc sau cùng: dâng phần phước lành của buổi tụng niệm cho mọi người, mọi loài, không giữ riêng cho mình.
Nguyện dĩ thử công đức,
Phổ cập ư nhất thiết,
Ngã đẳng dữ chúng sanh,
Giai cộng thành Phật đạo.
Nhiều nhà đọc bằng lời Việt: Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo.
Câu hỏi thường gặp
Đi lễ chùa thì lễ ban nào trước?
Theo nếp phổ biến, bạn đặt lễ ban Đức Ông trước để xin phép, rồi vào chính điện lễ Tam Bảo, sau đó lễ ban Đức Thánh Hiền, ban Mẫu (nếu có) và cuối cùng là nhà Tổ. Mỗi chùa bài trí khác nhau, bạn có thể hỏi nhà chùa.
Có được đặt đồ mặn, tiền vàng lên ban Phật không?
Không. Ban Tam Bảo chỉ dâng lễ chay. Tiền vàng nếu có thì đặt ở ban Đức Ông hoặc ban Mẫu tùy lệ chùa, còn tiền công đức thì bỏ vào hòm.
Đi chùa không mang lễ có được không?
Được. Nhiều người chỉ thắp một nén hương, vái Phật và khấn. Lễ vật không bắt buộc.
Có nên cài tiền lẻ lên tay tượng Phật không?
Không nên. Nhà chùa thường dặn bỏ tiền công đức vào hòm, không cài lên tay tượng hay rải lên ban thờ, để ban thờ sạch sẽ, trang nghiêm.
Khấn ở chùa nên đọc to hay khấn thầm?
Nên khấn nhỏ vừa đủ mình nghe hoặc khấn thầm, không đọc to làm ảnh hưởng người đang lễ bên cạnh.
Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong
Ứng vào việc của bạn
Ngày giờ cúng hợp tuổi chủ nhà
Chọn ngày định cúng để biết giờ đẹp, ngày ấy hợp hay xung tuổi chủ nhà, và có bài khấn điền sẵn tên, địa chỉ, ngày âm lịch.
- Giờ hoàng đạo của đúng ngày bạn định cúng
- Ngày ấy hợp hay xung với tuổi chủ nhà
- Bài khấn điền sẵn tên, địa chỉ và ngày âm lịch
- Hướng tốt để đặt mâm trong ngày ấy
