Khái niệm
Phục Ngâm và Phản Ngâm
伏吟課・反吟課
Là gì
Phục Ngâm và Phản Ngâm là hai thế cục đặc biệt của Đại Lục Nhâm, luôn được kể liền nhau vì chúng đối nhau như hai đầu một cây gậy. Một lá Lục Nhâm có hai lớp chữ chồng lên nhau: lớp dưới đứng yên gọi là Địa Bàn, lớp trên xoay gọi là Thiên Bàn. Phục Ngâm 伏吟 là cái thế hai lớp trùng khít, mười hai vị thần đều nằm im đúng nhà mình, không ai xê dịch đi đâu. Phản Ngâm 反吟, có nơi viết 返吟, là cái thế ngược hẳn: mười hai vị đều rơi vào cung đối diện nhà mình, xa nhất có thể xa. Hai thế này không nói chuyện của riêng một góc bàn mà nói cái khí của toàn cục.
Ý nghĩa cốt lõi
Phục Ngâm mang tượng uất ức khó vươn ra, tự khắc tự hại: trong cái hình có cái hại, trong cái phá lại có cái hợp, tĩnh mà bên trong vẫn động, hung mà vẫn ẩn phần cát. Gọn lại là tượng giữ cái cũ để chờ cái mới. Phản Ngâm mang tượng bờ cao hóa thành vực sâu, vực sâu hóa thành gò cao: được vật lại mất, việc tưởng hỏng lại thành. Chính vì mọi thứ lật qua lật lại nên thế này hợp nhất với việc khôi phục lại chuyện cũ, nối lại cái đã đứt. Một bên là bất động, một bên là đảo lộn, nhớ hai chữ ấy là nắm được cốt lõi.
Biểu tượng
Chữ ngâm trong cả hai tên là tiếng rên. Phục Ngâm nghĩa đen là nằm rên: bị dồn nén không vươn ra được nên rên rỉ ở yên một chỗ, đúng cảnh mười hai vị thần nằm im tại nhà. Phản Ngâm nghĩa đen là trở lại rên: người xưa ví như hai quẻ Khảm và Ly đổi chỗ cho nhau, Chấn và Đoài hoán vị, âm dương qua lại khắc chế nhau nên mới có tiếng rên phản phục. Một bên rên vì không nhúc nhích được, một bên rên vì bị lật ngược. Hai bức tranh nhỏ ấy đủ để bạn nhớ cả đời, không cần thuộc thêm chữ nào.
Đi sâu hơn
Trong hai thế này, người xưa còn đặt tên riêng cho mấy dạng hay gặp. Bên Phục Ngâm có Tự Nhậm cách 自任格, nghĩa là tự mình đảm đương, ứng với người tính cương cường, tự quyết, làm không do dự, nhưng cứng quá thì tự chuốc lấy khó khăn. Có Tự Tín cách 自信格, nghĩa là tự tin cậy nơi mình, ứng với thế bị động, phải chờ đợi, không tự nắm được tình thế, hợp với việc ẩn náu và cất giữ. Có Đỗ Truyền cách 杜傳格, nghĩa là đường đi bị bít lại, ứng với việc đang làm thì đình trệ giữa chừng, đổi hướng đổi cách làm thì mở ra, giữ nguyên thì tắc. Bên Phản Ngâm có Vô Thân khóa 無親課, nghĩa là không có chỗ thân cận để nương, dân gian còn gọi bằng cái tên rất gợi là Tỉnh Lan Xạ 井欄射, tức bắn tên vào lan can giếng, vẽ cảnh không có gì bấu víu.
Trong công việc và tình cảm
Phục Ngâm ứng với những việc đứng yên: người chưa đi, đồ chưa mất, chuyện chưa ngã ngũ, đơn chưa duyệt. Thế ấy hợp với giữ chỗ cũ và chờ đúng lúc; ép cho nhanh chỉ thêm bức bối mà việc vẫn không nhúc nhích. Phản Ngâm ứng với những việc lật: đang yên thành động, đang ở thành đi, chỗ cũ có đường quay lại, cái đã mất có cơ về, cái tưởng chắc trong tay lại vuột. Người hỏi chuyện dời nhà, đổi việc, nối lại liên lạc với người xưa hay gặp thế này. Trong tình cảm, Phục Ngâm là tình đang nén lại chưa nói ra; Phản Ngâm là tình đổi chiều, có thể quay về mà cũng có thể xoay đi.
Phân biệt, đừng nhầm
Đừng gộp hai thế làm một dù chúng giống nhau ở chỗ đều nói quan hệ toàn cục giữa hai lớp bàn. Một bên trùng khít, một bên đối diện, nghĩa ngược hẳn nhau, và mọi trường phái đều trình bày riêng từng thế. Cũng đừng đọc Phục Ngâm thành xui xẻo hay Phản Ngâm thành hỏng việc: Phục Ngâm hung mà vẫn ẩn phần cát, Phản Ngâm hỏng rồi vẫn thành lại. Riêng tên Phản Ngâm có hai lối viết chữ Hán và các trường phái chưa thống nhất nên dùng lối nào, nhưng cả hai lối đều cùng một nghĩa, gặp lối nào bạn cũng hiểu là một.
Câu hỏi thường gặp
Phục Ngâm là gì?
Là thế cục hai lớp bàn trùng khít, mười hai vị thần nằm im đúng nhà mình. Tượng của nó là uất ức khó vươn ra, giữ cái cũ để chờ cái mới, tĩnh mà bên trong vẫn động.
Phản Ngâm báo hiệu điều gì?
Báo hiệu mọi thứ lật ngược: bờ cao hóa vực sâu, được vật lại mất, việc tưởng hỏng lại thành. Thế này lợi nhất cho việc khôi phục chuyện cũ, nối lại cái đã đứt.
Phục Ngâm và Phản Ngâm khác nhau ra sao?
Phục Ngâm là mười hai vị nằm trùng đúng vị trí gốc nên việc đứng im. Phản Ngâm là mười hai vị rơi vào cung đối diện gốc nên việc đảo lộn. Một bên bất động, một bên lật ngược.
Gặp Phục Ngâm thì nên làm gì?
Nên giữ nguyên chỗ đứng hiện tại và chờ đúng thời điểm, đừng ép việc chạy nhanh. Đây là thế giữ cũ chờ mới, càng thúc càng bức bối mà tình hình vẫn không xê dịch.
Tự Nhậm cách và Tự Tín cách nghĩa là gì?
Tự Nhậm là tự mình đảm đương, ứng người cương cường tự quyết nhưng dễ tự chuốc khó vì quá cứng. Tự Tín là tự tin cậy nơi mình, ứng thế bị động phải chờ, hợp việc ẩn náu cất giữ.
Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong
Ứng vào việc của bạn
Phục Ngâm và Phản Ngâm ứng vào đúng việc bạn hỏi
Lập khóa theo đúng giờ đặt câu hỏi thì biết khóa của bạn rơi vào thế cục nào, loại thần nào ứng, và diễn biến chuyển ra sao.
- Khóa lập theo đúng giờ bạn đặt câu hỏi
- Thế cục khóa của bạn rơi vào và nghĩa của nó
- Loại thần ứng với việc bạn hỏi
- Diễn biến trước sau và thời điểm chuyển
