Bỏ qua trình đơn

Khái niệm

Thập Nhị Nguyệt Tướng

十二月將

Là gì

Thập Nhị Nguyệt Tướng là mười hai vị tướng của tháng, mỗi vị ứng với một Địa Chi và cai một quãng thời gian trong năm. Gốc của khái niệm này là thiên văn cổ: người xưa quan sát Mặt Trời đi qua mười hai cung trên vòng trời trong một năm, mỗi cung đặt một tên tướng. Vì vậy Nguyệt Tướng không phải một vị thần thánh mà là cách gọi chỗ đứng của Mặt Trời theo mùa. Trong Đại Lục Nhâm, đây là thứ bắt buộc phải biết trước khi dựng khóa, thiếu nó thì không có khóa nào cả. Mười hai tên tướng là: Đăng Minh, Hà Khôi, Tòng Khôi, Truyền Tống, Tiểu Cát, Thắng Quang, Thái Ất, Thiên Cương, Thái Xung, Công Tào, Đại Cát, Thần Hậu.

Cấu trúc và cách hiểu

Mỗi tướng đi với một chi cố định và đổi vào ngày Trung Khí, tức khí thứ hai trong mỗi cặp tiết khí của tháng, không phải ngày đầu tháng. Đăng Minh 登明 ở Hợi, dùng từ Vũ Thủy đến trước Xuân Phân. Hà Khôi 河魁 ở Tuất, từ Xuân Phân đến trước Cốc Vũ. Tòng Khôi 從魁 ở Dậu, từ Cốc Vũ đến trước Tiểu Mãn. Truyền Tống 傳送 ở Thân, từ Tiểu Mãn đến trước Hạ Chí. Tiểu Cát 小吉 ở Mùi, từ Hạ Chí đến trước Đại Thử. Thắng Quang 勝光 ở Ngọ, từ Đại Thử đến trước Xử Thử. Thái Ất 太乙 ở Tỵ, từ Xử Thử đến trước Thu Phân. Thiên Cương 天罡 ở Thìn, từ Thu Phân đến trước Sương Giáng. Thái Xung 太衝 ở Mão, từ Sương Giáng đến trước Tiểu Tuyết. Công Tào 功曹 ở Dần, từ Tiểu Tuyết đến trước Đông Chí. Đại Cát 大吉 ở Sửu, từ Đông Chí đến trước Đại Hàn. Thần Hậu 神后 ở Tý, từ Đại Hàn đến trước Vũ Thủy của năm sau.

Ý nghĩa cốt lõi

Ý nghĩa cốt lõi của Nguyệt Tướng nằm ở chữ thời. Việc của con người không đứng ngoài mùa màng: cùng một câu hỏi, hỏi vào giữa mùa xuân và hỏi vào giữa mùa đông là hai thế khác nhau, vì khí trời đang đẩy về hai phía khác nhau. Nguyệt Tướng chính là cách người xưa ghi lại cái khí ấy bằng một con chi gọn gàng, đủ để đem vào khóa mà dùng. Nó còn nhắc một điều rất thực tế: thời của việc đổi ở giữa tháng chứ không đổi ở đầu tháng, nên có những ngày lịch đã sang tháng mới mà thời thế vẫn còn thuộc về quãng cũ.

Biểu tượng

Tên mười hai tướng dịch ra tiếng Việt đọc rất gợi. Đăng Minh là lên chỗ sáng. Hà Khôi là sao Khôi bên sông, Tòng Khôi là kẻ đi theo sao Khôi, hai vị đứng liền nhau. Truyền Tống là đưa đi và chuyển tới, nên gắn với đường sá, tin tức. Tiểu Cát là điều lành nhỏ, Đại Cát là điều lành lớn, hai cái tên tự nói ra sắc thái. Thắng Quang là ánh sáng rực thịnh, đúng vào quãng nóng nhất của năm. Thái Ất là ngôi sao tôn quý. Thiên Cương là cán trời, chỉ sự cứng rắn. Thái Xung là xung lớn, chỉ sự va chạm xáo động. Công Tào là chức quan coi sổ sách việc công, nên dính tới giấy tờ và chức phận. Thần Hậu là bà chúa, thuộc phần âm, kín và mềm.

Đi sâu hơn

Nguyệt Tướng làm hai việc trong một khóa. Việc thứ nhất là việc nền: nó nằm trong nhóm những thứ phải có trước khi dựng bàn, nên lấy sai thì cả khóa hỏng từ gốc, mọi lời luận phía sau đều là lời của một bàn khác. Việc thứ hai là việc nghĩa: vị tướng đang cai quãng thời gian bạn hỏi cho biết khí của mùa đang nghiêng về đâu, và cái tên ấy nhuốm màu lên toàn khóa. Hỏi vào quãng Truyền Tống thì phần đi lại, chuyển dời nổi lên rõ; hỏi vào quãng Công Tào thì phần giấy tờ, chức phận đậm nét hơn.

Nhận diện nhanh

Nhớ Nguyệt Tướng có hai mẹo. Mẹo thứ nhất: dãy chi của nó chạy lùi, bắt đầu ở Hợi rồi Tuất, Dậu, Thân, Mùi, Ngọ, Tỵ, Thìn, Mão, Dần, Sửu, Tý, ngược hẳn chiều Tý, Sửu, Dần mà bạn quen ở các môn khác. Mẹo thứ hai: mốc đổi luôn rơi vào giữa tháng chứ không phải đầu tháng, và luôn là những cái tên quen thuộc như Vũ Thủy, Xuân Phân, Cốc Vũ, Hạ Chí, Thu Phân, Đông Chí. Ai quen xem lịch tiết khí sẽ nhận ra ngay đây đúng là mười hai mốc chia đôi từng tháng trong năm.

Câu hỏi thường gặp

Nguyệt Tướng là gì?

Là mười hai vị tướng ứng với chỗ đứng của Mặt Trời trên vòng trời theo mùa, mỗi vị đi với một Địa Chi và cai một quãng thời gian trong năm, dùng làm nền bắt buộc cho khóa Lục Nhâm.

Nguyệt Tướng đổi vào ngày nào trong tháng?

Đổi vào ngày Trung Khí, tức khí thứ hai trong mỗi cặp tiết khí, nằm ở khoảng giữa tháng. Các mốc đổi là Vũ Thủy, Xuân Phân, Cốc Vũ, Tiểu Mãn, Hạ Chí, Đại Thử và những mốc cùng loại.

Tháng này dùng Nguyệt Tướng nào?

Xem bạn đang ở quãng nào giữa hai Trung Khí. Ví dụ từ Vũ Thủy đến trước Xuân Phân dùng Đăng Minh ở Hợi, từ Xuân Phân đến trước Cốc Vũ dùng Hà Khôi ở Tuất, cứ thế lùi dần.

Vì sao dãy Nguyệt Tướng lại chạy ngược?

Vì nó tả đường đi biểu kiến của Mặt Trời qua các cung trời, chiều ấy ngược với chiều đếm Địa Chi thông thường. Cho nên dãy đi Hợi, Tuất, Dậu, Thân chứ không đi Tý, Sửu, Dần.

Lấy sai Nguyệt Tướng thì sao?

Cả khóa sai từ gốc. Bàn vẫn dựng ra đủ tầng và vẫn luận được trơn tru, nhưng đó là bàn của một thời điểm khác, nên lời đáp không còn dính gì tới việc bạn hỏi.

Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong

Ứng vào việc của bạn

Thập Nhị Nguyệt Tướng ứng vào đúng việc bạn hỏi

Lập khóa theo đúng giờ đặt câu hỏi thì biết khóa của bạn rơi vào thế cục nào, loại thần nào ứng, và diễn biến chuyển ra sao.

  • Khóa lập theo đúng giờ bạn đặt câu hỏi
  • Thế cục khóa của bạn rơi vào và nghĩa của nó
  • Loại thần ứng với việc bạn hỏi
  • Diễn biến trước sau và thời điểm chuyển