Chuyên đề
Sáu câu chưa giải được
Là gì
Tất Pháp Phú có đúng một trăm câu. Chín mươi tư câu trong đó đọc được, hiểu được, và đặt được vào một lá cụ thể. Sáu câu còn lại đứng riêng một chỗ: chúng vẫn có nguyên văn, vẫn có nghĩa chữ, nhưng 1Vong không đem ra làm lời đoán cho lá của bất kỳ ai. Sáu câu ấy chia hai nhóm, và hai nhóm khác nhau tận gốc. Ba câu vướng vì chữ nghĩa chưa ngã ngũ, người sau đọc mỗi nhà một lối. Ba câu còn lại không vướng chữ chút nào, nghĩa rõ như ban ngày, mà vướng ở một lằn ranh tự đặt: có những chuyện dù đọc ra cũng không nói.
Ý nghĩa cốt lõi
Vì sao lại kể chuyện này ra? Vì một bài phú nghìn năm tuổi không phải chỗ nào cũng sáng. Người soạn viết thất ngôn, gọt chữ cho vừa vần, nên có câu chỉ còn giữ được cái bóng của ý ban đầu. Đời sau chép tay rồi chép khắc, thỉnh thoảng lệch một chữ, mà một chữ lệch là nghĩa rẽ hẳn sang hướng khác. Cách tử tế nhất là nói thật: chỗ nào chắc thì dùng, chỗ nào chưa chắc thì để nguyên văn đó cho người học tự soi, không gán bừa vào chuyện của người đi xem. Điều đáng sợ trong nghề này là một lời đoán bịa nghe vẫn hay như thường, có khi còn hay hơn lời đoán thật.
Đi sâu hơn
Ba câu vướng chữ. Một là “Nhị Quý giai không hư hỉ kỳ” (二貴皆空虛喜期): hai vị Quý Nhân cùng rơi vào khoảng trống, thành ra mừng hụt — có người nhận lời, có lời hứa hẳn hoi, rốt cuộc chẳng đi tới đâu. Nghĩa thì rõ, chỗ tắc nằm ở hai chữ giai không: đọc thẳng thành cả hai vị cùng rơi trống thì ra một cảnh gần như không bao giờ gặp, nên có lối hiểu khác cho rằng chỉ xét vị Quý đang dùng vào thời điểm hỏi. Hai lối ấy chưa ngã ngũ.
Hai là “Lưỡng Xà giáp Mộ hung nan miễn” (兩蛇夾墓凶難免): hai con rắn kẹp lấy chỗ Mộ, thế bị vây chặt, hung khó tránh, và đây là một trong những thế nặng nhất bài phú nhắc tới. Chỗ tắc ở hai chữ Lưỡng Xà, bởi trên một lá Lục Nhâm chỉ có duy nhất một vị Đằng Xà. Có lối hiểu rằng chữ lưỡng tả thế kẹp hai bên chứ không đếm hai vị; lối khác đọc sang hai chỗ khác trong lá. Chưa nhà nào thuyết phục hẳn nhà nào. Ba là “Lục hào hiện quái phòng kỳ khắc” (六爻現卦防其剋): câu này bắc cầu từ Lục Nhâm sang phép xem quẻ sáu hào, tức sang một môn khác hẳn. Muốn dùng đúng thì phải đứng vững cả hai bên, ghép ẩu chỉ ra được một câu nghe kêu.
Trong công việc và tình cảm
Ba câu còn lại không tắc ở chữ. Hai câu trong đó nói về chuyện thai nghén, một câu chép điềm mừng, một câu chép điềm không yên. Câu thứ ba nói về phần riêng tư giữa vợ chồng, và cổ văn dùng chữ rất nặng. Ba câu này không vào bài luận, và không phải vì đọc không ra. Chuyện thai sản thuộc về người có chuyên môn y tế; một lời đoán đặt sai chỗ ở đây làm người ta khổ thật chứ không chỉ sai về học thuật, nên chỗ ấy phải nhường cho lần khám. Còn chuyện riêng tư vợ chồng thì không lá quẻ nào có quyền phán phẩm hạnh của một người đang vắng mặt, không được nói lại một lời nào cho mình. Có đủ chữ cũng không dùng: đây là ranh giới đặt sẵn, không phải chỗ còn thiếu.
Cách dùng
Vậy giữ sáu câu ấy lại để làm gì? Để đọc, để hiểu bài phú cho trọn, và để biết chỗ nào trong nghề còn bỏ ngỏ. Người học nên thuộc cả sáu, nhưng thuộc theo lối biết rõ đây là chỗ chưa ngã ngũ, chứ không thuộc theo lối câu thần chú đọc lên cho kêu. Nếu bạn gặp ai giảng một trong sáu câu ấy bằng giọng chắc nịch, bạn có quyền hỏi lại họ đọc theo lối nào và vì sao chọn lối ấy. Câu hỏi đó lịch sự, mà cũng đủ để biết người đối diện đang đứng ở đâu.
Câu hỏi thường gặp
Tất Pháp Phú có câu nào chưa giải được không?
Có sáu câu. Ba câu vướng vì chữ nghĩa chưa ngã ngũ giữa các trường phái, ba câu còn lại nghĩa rất rõ nhưng thuộc vùng không đem ra đoán cho ai, nên chỉ để nguyên văn.
Lưỡng Xà giáp Mộ nghĩa là gì?
Là cảnh hai con rắn kẹp lấy chỗ Mộ, thế bị vây chặt, hung khó tránh. Chỗ tắc nằm ở hai chữ lưỡng xà, vì trên một lá Lục Nhâm chỉ có duy nhất một vị Đằng Xà.
Nhị Quý giai không là thế nào?
Là cảnh mừng hụt: có người nhận lời giúp, có lời hứa hẳn hoi, rốt cuộc chẳng đi tới đâu. Cách đọc chính xác của câu này tới nay các trường phái vẫn chưa thống nhất.
Vì sao có câu đọc ra nghĩa rồi mà vẫn không dùng?
Vì có những vùng không đoán. Chuyện thai sản thuộc về thầy thuốc, còn chuyện riêng tư của vợ chồng thì không lá quẻ nào có quyền phán phẩm hạnh một người đang vắng mặt.
Bài phú thiếu mất sáu câu phải không?
Không thiếu. Nguyên văn vẫn còn đủ một trăm câu, cái chưa đủ là phần diễn giải chắc tay. Gặp bản chép một trăm lẻ tám câu thì đó là bản đời sau mở rộng, không phải bản gốc.
Người học nên xử sao với mấy câu còn treo?
Nên đọc và nhớ, nhưng nhớ kèm cái biết rằng đây là chỗ chưa ngã ngũ. Ai giảng chúng bằng giọng chắc nịch thì bạn cứ hỏi lại họ đọc theo lối nào và vì sao chọn lối ấy.
Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong
Ứng vào việc của bạn
Sáu câu chưa giải được ứng vào đúng việc bạn hỏi
Lập khóa theo đúng giờ đặt câu hỏi thì biết khóa của bạn rơi vào thế cục nào, loại thần nào ứng, và diễn biến chuyển ra sao.
- Khóa lập theo đúng giờ bạn đặt câu hỏi
- Thế cục khóa của bạn rơi vào và nghĩa của nó
- Loại thần ứng với việc bạn hỏi
- Diễn biến trước sau và thời điểm chuyển
