Bỏ qua trình đơn

Vòng đời

Văn khấn cúng 49 ngày

Đến bài khấn Bản ngắn gọn

Ý nghĩa

Lễ cúng 49 ngày, tên Hán Việt là chung thất (tuần cúng cuối), là một mốc lớn trong tang lễ của người Việt. Theo nếp cổ truyền chịu ảnh hưởng đạo Phật, từ ngày mất, cứ bảy ngày gia đình làm một tuần cúng: tuần đầu gọi là sơ thất, rồi nhị thất, tam thất, cho đến tuần thứ bảy là chung thất. Bảy tuần cộng lại tròn bốn mươi chín ngày, nên dân gian quen gọi là lễ 49 ngày.

Theo quan niệm nhà Phật được dân gian tiếp nhận, trong bốn mươi chín ngày đầu, thần thức người mất chưa định về đâu, còn quyến luyến nhà cửa và người thân. Vì vậy con cháu giữ hương khói đều đặn, dâng cơm, niệm Phật, tụng kinh và làm việc thiện để hồi hướng công đức, cầu cho hương linh được nhẹ nhàng siêu thoát. Lễ chung thất khép lại bảy tuần cúng ấy, nên thường được làm chu đáo hơn các tuần trước.

Bài khấn dưới đây dùng cho lễ 49 ngày làm tại nhà, đọc trước bàn thờ người mới mất. Nếu bạn làm lễ tròn một trăm ngày thì dùng bài văn khấn cúng 100 ngày. Nếu bạn chỉ dâng cơm hằng bữa trong thời gian tang thì dùng bài văn khấn cúng cơm. Muốn nhờ nhà chùa làm lễ cầu siêu riêng thì xem thêm bài văn khấn cầu siêu.

Thời điểm cúng

Lễ làm vào ngày thứ bốn mươi chín kể từ ngày mất. Cách tính phổ biến là lấy chính ngày mất làm ngày thứ nhất rồi đếm đủ 49 ngày; cũng có nơi đếm từ hôm sau ngày mất, nên bạn hỏi lại bậc cao niên trong họ hoặc nhà chùa cho khớp nếp nhà. Tháng âm lịch có tháng đủ 30 ngày, tháng thiếu 29 ngày, vì thế nên đếm trên lịch cho chắc.

Lễ thường cúng vào buổi sáng, xong trước giờ trưa để con cháu, họ hàng thụ lộc. Nếu vì việc gia đình không làm đúng ngày được, theo nếp chung có thể làm sớm hơn một hai ngày, ít ai để lùi lại. Nếu thỉnh sư tụng kinh thì giờ giấc theo nhà chùa sắp xếp.

Cách sắm lễ

Lễ dâng hương linh gồm: hương, đèn hoặc nến, hoa tươi (hoa huệ trắng, hoa cúc, hoa sen), đĩa ngũ quả, trầu cau, chén nước sạch, trà, rượu và mâm cơm. Nhiều nhà giữ cỗ chay trọn bảy tuần để hồi hướng cho người mất; có nhà làm cỗ mặn với xôi, gà luộc, canh, món xào và những món người mất lúc sinh thời ưa thích, theo nếp nhà.

Mâm cơm dâng hương linh đặt ở bàn thờ người mất (nhiều nơi gọi là bàn thờ vong hay linh sàng). Ban thờ gia tiên cũng thắp hương, đặt đĩa quả, chén nước. Nếu nhà có ban Phật hoặc có thỉnh sư về tụng kinh thì sắm riêng một lễ chay dâng Phật gồm hoa, quả, oản, xôi chè, nước sạch; không đặt đồ mặn và vàng mã lên ban Phật.

Vàng mã, quần áo và đồ dùng bằng giấy dâng người mất theo nếp mỗi nhà; nên sắm vừa phải, gọn gàng, để lúc hóa được an toàn.

Các bước hành lễ

  1. Lau dọn bàn thờ người mất và ban thờ gia tiên, thay nước, cắm hoa mới từ hôm trước.
  2. Bày lễ chay lên ban Phật (nếu có), bày mâm cơm, hoa quả, trầu rượu lên bàn thờ người mất, thắp đèn nến.
  3. Thắp 3 nén hương (hoặc 1 nén); người đứng chủ tang, thường là con trưởng, đứng ngay ngắn trước bàn thờ, vái ba vái.
  4. Đọc bài khấn chậm rãi, rõ ràng; khấn xong vái ba vái (hoặc lạy theo nếp nhà), rồi con cháu lần lượt thắp hương.
  5. Chờ hết tuần hương (hương cháy khoảng hai phần ba), vái tạ rồi đem vàng mã ra chỗ thoáng, an toàn để hóa; có nơi rót chén rượu lên tro sau khi hóa.
  6. Hạ lễ, dâng cơm chay mời sư (nếu có thỉnh), rồi cả nhà cùng họ hàng thụ lộc.

Bài khấn đầy đủ

Văn khấn cúng 49 ngày

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Phật A Di Đà, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Thần linh cai quản trong xứ này.

Con kính lạy các cụ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Bá thúc Đệ huynh, Cô di Tỷ muội họ nội họ ngoại cùng toàn thể hương linh gia tiên.

Tín chủ con là: (họ tên)

Ngụ tại: (địa chỉ)

Hôm nay là ngày (ngày) tháng (tháng) năm (năm).

Nhân ngày chung thất của (cụ/ông/bà) (tên người mất), từ trần ngày (ngày mất), hưởng thọ (hưởng thọ) tuổi.

Bảy tuần đã mãn, âm dương đôi ngả, con cháu nghĩ đến công ơn lúc sinh thời, lòng thương nhớ khôn nguôi.

Chúng con cùng toàn thể gia quyến thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, kim ngân trà quả, cơm canh thanh đạm, đốt nén hương thơm, dâng lên trước án.

Kính mời hương linh (cụ/ông/bà) (tên người mất) về đây chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật.

Kính mời các vị tiên linh nội ngoại cùng về hâm hưởng.

Kính xin chư vị Tôn thần, Thổ địa, Táo quân cho phép hương linh (cụ/ông/bà) được về hưởng lễ.

Cúi xin Đức Phật A Di Đà, Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát từ bi tiếp dẫn, cho hương linh sớm được siêu sinh Tịnh độ, an vui nơi cõi Phật.

Cúi xin hương linh phù hộ độ trì cho con cháu bình an mạnh khỏe, trên thuận dưới hòa, gia đạo yên vui.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin chứng giám.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Bài khấn ngắn gọn

Văn khấn cúng 49 ngày

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, chư vị Tôn thần.

Con kính lạy hương linh (cụ/ông/bà) (tên người mất) cùng tổ tiên nội ngoại.

Tín chủ con là (họ tên), ngụ tại (địa chỉ).

Hôm nay là ngày (ngày) tháng (tháng) năm (năm), ngày chung thất, tròn bốn mươi chín ngày (cụ/ông/bà) từ trần.

Con cháu thành tâm sắm lễ, dâng nén hương thơm, kính mời hương linh về chứng giám, thụ hưởng lễ vật.

Cúi xin chư Phật từ bi tiếp dẫn hương linh sớm được siêu sinh Tịnh độ, phù hộ con cháu bình an.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Lưu ý

Người đứng khấn và con cháu mặc đồ tang hoặc quần áo sẫm màu, kín đáo. Đọc bài khấn chậm, rõ, vừa đủ nghe; ai chưa quen có thể cầm giấy đọc hoặc khấn thầm. Trong thời gian tang, theo quan niệm dân gian, nhiều nhà kiêng cưới xin, mừng thọ và tiệc tùng linh đình.

Hóa vàng ở chỗ thoáng, xa mái hiên và đồ dễ cháy, có người trông đến khi tàn hẳn. Nếu thỉnh sư, nên hỏi trước nhà chùa về giờ giấc, lễ vật dâng Phật và cách bày. Sau lễ 49 ngày, nhiều nhà thôi dâng cơm hằng bữa, chỉ thắp hương hằng ngày và cúng ngày rằm, mùng một; có nhà giữ dâng cơm đến 100 ngày.

Nội dung trên tham khảo theo phong tục cổ truyền, mang tính tùy tâm; lễ vật và lời khấn có thể khác đôi chút theo vùng miền và nếp riêng của mỗi gia đình.

Bài tụng kèm theo

Các bài tụng thường dùng trong nhà cho lễ này. Mỗi chùa có thể đọc khác nhau vài chữ, nhà theo chùa nào thì đọc theo nghi thức chùa ấy.

Bát Nhã Tâm Kinh

Bài kinh ngắn và được tụng nhiều nhất trong nhà Phật. Ý chính: mọi thứ đều đổi thay, không có gì đứng yên mãi, hiểu được thế thì lòng bớt bám víu, bớt khổ. Nhà có lễ Phật hay cúng người đã khuất thường tụng bài này trước hoặc sau khi khấn.

Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.

Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.

Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.

Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức. Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.

Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo.

Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.

Bồ đề tát đõa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.

Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề.

Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.

Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:

Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.

Câu chú cuối cùng thường đọc ba lần.

Chú Vãng Sanh

Bài chú ngắn, thường tụng khi cúng người đã khuất hay cúng cô hồn, cầu cho người đi được về nơi an lành.

Nam mô a di đa bà dạ, đa tha già đa dạ, đa điệt dạ tha, a di rị đô bà tỳ, a di rị đa tất đam bà tỳ, a di rị đa tỳ ca lan đế, a di rị đa tỳ ca lan đa, già di nị, già già na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha.

Thường đọc ba lần.

Niệm Phật

Những câu xưng danh hiệu Phật và Bồ Tát. Không cần thuộc kinh dài, niệm chậm và thành tâm là được. Mỗi câu thường niệm ba lần.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam mô A Di Đà Phật.

Nam mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.

Mỗi câu niệm ba lần.

Kệ hồi hướng

Bài kệ đọc sau cùng: dâng phần phước lành của buổi tụng niệm cho mọi người, mọi loài, không giữ riêng cho mình.

Nguyện dĩ thử công đức,

Phổ cập ư nhất thiết,

Ngã đẳng dữ chúng sanh,

Giai cộng thành Phật đạo.

Nhiều nhà đọc bằng lời Việt: Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo.

Câu hỏi thường gặp

Cúng 49 ngày tính từ ngày nào?

Tính từ ngày mất. Cách phổ biến là lấy chính ngày mất làm ngày thứ nhất rồi đếm đủ 49 ngày trên lịch âm; có nơi đếm từ hôm sau, nên bạn hỏi bậc cao niên trong họ cho khớp nếp nhà.

Cúng 49 ngày làm sớm hơn được không?

Nếu có việc chính đáng, nhiều nhà làm sớm hơn một hai ngày. Theo nếp chung, ít ai làm lùi sau ngày thứ 49.

Cúng 49 ngày nên làm cỗ chay hay cỗ mặn?

Lễ dâng Phật luôn là lễ chay. Mâm dâng hương linh thì nhiều nhà giữ cỗ chay trong bảy tuần để hồi hướng cho người mất, có nhà làm cỗ mặn theo nếp nhà.

Có bắt buộc mời sư tụng kinh không?

Không bắt buộc. Gia đình có thể tự làm lễ tại nhà với bài khấn này; nhà nào có điều kiện thì thỉnh sư về tụng kinh hoặc đưa lễ lên chùa nhờ làm lễ cầu siêu.

Sau 49 ngày có còn dâng cơm hằng ngày không?

Nhiều nhà thôi dâng cơm hằng bữa từ sau lễ 49 ngày, có nhà giữ đến 100 ngày. Hương khói trên bàn thờ người mất vẫn giữ đều cho đến khi mãn tang.

Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong

Ứng vào việc của bạn

Ngày giờ cúng hợp tuổi chủ nhà

Chọn ngày định cúng để biết giờ đẹp, ngày ấy hợp hay xung tuổi chủ nhà, và có bài khấn điền sẵn tên, địa chỉ, ngày âm lịch.

  • Giờ hoàng đạo của đúng ngày bạn định cúng
  • Ngày ấy hợp hay xung với tuổi chủ nhà
  • Bài khấn điền sẵn tên, địa chỉ và ngày âm lịch
  • Hướng tốt để đặt mâm trong ngày ấy