Bỏ qua trình đơn

Vòng đời

Văn khấn lễ tang (thành phục)

Đến bài khấn Bản ngắn gọn

Ý nghĩa

Lễ thành phục là lễ con cháu chính thức mặc đồ tang để chịu tang người mất, dân gian thường gọi là lễ phát tang. Theo nếp tang lễ cổ truyền, sau khi tắm rửa, khâm liệm và nhập quan, gia đình lập bàn thờ linh (linh sàng) trước quan tài, rồi làm lễ thành phục. Từ lúc này con cháu mới đội khăn, mặc áo tang và đón họ hàng, làng xóm đến phúng viếng.

Tang phục xưa chia năm bậc, gọi là ngũ phục, theo người gần hay xa với người mất: người càng gần thì tang càng nặng, thời gian để tang càng dài. Theo lệ cổ ở miền Bắc, con trai để tang cha chống gậy tre, để tang mẹ chống gậy vông. Ngày nay đồ tang giản lược hơn, phần nhiều là khăn trắng, áo sô, cháu chắt đội khăn có dấu riêng tùy nơi.

Lời khấn thành phục là lời con cháu thưa với hương linh người mất rằng cả nhà đã chịu tang, xin người về chứng giám tấm lòng thương tiếc. Việc tang thường có người lớn trong họ, nhà chùa hoặc ban lễ tang địa phương giúp; bài dưới đây dùng khi gia đình tự khấn. Bữa cơm dâng hằng ngày sau đó thì dùng bài Văn khấn cúng cơm (trong tang).

Thời điểm cúng

Lễ thành phục làm sau khi nhập quan và lập bàn thờ linh, thường trong ngày mất hoặc ngày hôm sau, tùy giờ mất và giờ nhập quan đã chọn. Theo nếp xưa, lễ làm trước khi đón khách phúng viếng, vì chưa thành phục thì con cháu chưa đứng tang nhận lễ viếng.

Giờ làm lễ thường theo giờ đã chọn cho việc nhập quan; nhiều gia đình nhờ nhà chùa hoặc người am hiểu trong họ xem giúp. Có nơi làm lễ thành phục ngay sau khi nhập quan, có nơi đợi con cháu ở xa về đủ rồi mới làm.

Cách sắm lễ

Trước linh cữu bày bàn thờ linh gồm di ảnh, linh vị (bài vị), bát hương, đôi đèn hoặc nến, hoa tươi, trầu cau, chén nước, chén rượu. Theo nếp cổ, trước linh vị đặt một bát cơm đầy xới vun, trên đặt một quả trứng luộc và cắm một đôi đũa, thường gọi là bát cơm úp. Đèn trên bàn thờ linh giữ sáng suốt những ngày quàn.

Mâm lễ thành phục dâng lên linh cữu thường có xôi, gà luộc hoặc mâm cỗ mặn; nhà theo đạo Phật có thể dâng lễ chay gồm xôi, hoa quả, bánh trái, món chay. Cùng với đó là hương, rượu, trà, trầu cau và vàng mã vừa phải.

Đồ tang chuẩn bị đủ cho con cháu theo từng bậc: khăn tang, áo sô hoặc áo trắng; theo lệ cũ, con trai đội mũ rơm, chống gậy, con gái và con dâu đội mấn. Họ hàng xa và người không tiện chít khăn thì đeo băng tang. Cách chít khăn, màu dấu cho cháu chắt mỗi nơi một khác, nên hỏi người lớn trong họ.

Các bước hành lễ

  1. Hoàn tất khâm liệm, nhập quan; lập bàn thờ linh trước linh cữu với di ảnh, linh vị, bát hương, đèn nến và bát cơm úp.
  2. Phát đồ tang cho con cháu theo thứ bậc; mọi người mặc đồ tang, đứng hàng trước linh cữu, người gần đứng trước, người xa đứng sau.
  3. Bày mâm lễ thành phục, thắp đèn nến, thắp hương (thường ba nén).
  4. Đọc bài khấn: chủ tang (thường là con trai trưởng) quỳ hoặc đứng trước linh cữu; nhà có mời nhà chùa hay người đọc văn tế thì theo sự hướng dẫn.
  5. Vái lạy trước linh cữu: con cháu lần lượt theo thứ bậc, giữ trang nghiêm; số lạy theo nếp của họ.
  6. Mở cửa đón khách phúng viếng sau lễ; con cháu thay nhau túc trực, giữ đèn hương trên bàn thờ linh không để tắt trong những ngày quàn.

Bài khấn đầy đủ

Văn khấn lễ tang (thành phục)

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Thần linh cai quản trong xứ này.

Con kính lạy các cụ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Bá thúc Đệ huynh, Cô di Tỷ muội họ nội họ ngoại cùng toàn thể hương linh gia tiên.

Con kính lạy hương linh (cụ/ông/bà) (tên người mất).

Chủ tang con là: (họ tên), cùng toàn thể hiếu quyến.

Ngụ tại: (địa chỉ)

Hôm nay là ngày (ngày) tháng (tháng) năm (năm).

Thương thay (cụ/ông/bà) (tên người mất) đã từ trần vào ngày (ngày mất), hưởng thọ (hưởng thọ) tuổi.

Than ôi! Cõi trần một phút ra đi, âm dương đôi ngả cách biệt; công ơn trời biển, con cháu chưa kịp đền đáp.

Nay việc khâm liệm, nhập quan đã xong, toàn thể con cháu thành phục, đầu đội khăn tang, mình mặc áo sô, cùng nhau chịu tang, tỏ lòng hiếu kính.

Chúng con thành tâm sửa biện hương hoa, đèn nến, trà rượu, cơm canh, lễ vật, dâng lên trước linh sàng.

Kính mời hương linh (cụ/ông/bà) (tên người mất) về trước linh sàng, chứng giám lòng thành của con cháu, thụ hưởng lễ vật.

Cúi xin chư vị Tôn thần, tổ tiên nội ngoại chứng giám, độ trì cho hương linh (cụ/ông/bà) được thanh thản, sớm siêu sinh tịnh độ.

Cầu cho hương linh an nghỉ nơi chín suối, phù hộ cho con cháu trong nhà bình an, trên thuận dưới hòa.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước linh sàng kính lễ, cúi xin chứng giám.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Bài khấn ngắn gọn

Văn khấn lễ tang (thành phục)

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Con kính lạy chư vị Tôn thần, tổ tiên nội ngoại.

Con kính lạy hương linh (cụ/ông/bà) (tên người mất).

Chủ tang con là: (họ tên), cùng toàn thể hiếu quyến, ngụ tại: (địa chỉ).

Hôm nay là ngày (ngày) tháng (tháng) năm (năm), con cháu làm lễ thành phục, chịu tang (cụ/ông/bà).

Chúng con thành tâm dâng hương hoa, cơm canh, lễ vật, tỏ lòng thương tiếc, hiếu kính.

Cúi xin hương linh về chứng giám, được thanh thản, sớm siêu sinh tịnh độ.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Lưu ý

Việc tang mỗi vùng, mỗi dòng họ có nếp riêng, nhất là cách chít khăn, thứ tự đứng, số lạy; khi phân vân, gia đình nên hỏi người lớn trong họ hoặc nhà chùa. Người khấn đọc chậm, rõ, giọng trầm vừa đủ nghe; xúc động quá thì dừng một chút rồi đọc tiếp.

Đèn, nến và hương thắp liên tục nhiều ngày, lại gần vải trướng, hoa giấy, nên đặt trên đĩa chắc, xa màn và luôn có người trông, nhất là ban đêm. Hóa vàng ở chỗ trống ngoài sân, có chậu đựng. Theo nếp cũ, trong những ngày quàn, con cháu thay nhau túc trực bên linh cữu.

Nội dung trên tham khảo theo phong tục cổ truyền, mang tính tùy tâm; lễ vật và lời khấn có thể khác đôi chút theo vùng miền và nếp riêng của mỗi gia đình.

Câu hỏi thường gặp

Lễ thành phục làm vào lúc nào?

Sau khi khâm liệm, nhập quan và lập bàn thờ linh, trước khi đón khách phúng viếng. Giờ cụ thể thường theo giờ nhập quan đã chọn.

Thành phục và phát tang có khác nhau không?

Là một lễ. Thành phục là tên gọi cũ, nghĩa là mặc đủ đồ tang; dân gian gọi là lễ phát tang vì lúc này gia đình phát khăn tang cho con cháu.

Ai là người đọc bài khấn?

Thường là con trai trưởng, gọi là chủ tang; nếu không có con trai thì cháu trưởng hoặc người được gia đình cử. Nhà có mời nhà chùa thì gia đình khấn theo sự hướng dẫn.

Những ai phải chít khăn tang?

Con, dâu, rể, cháu, chắt và họ hàng đều để tang, nặng nhẹ theo người gần xa. Cách chít và dấu trên khăn mỗi nơi một khác, nên theo nếp của họ.

Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong

Ứng vào việc của bạn

Ngày giờ cúng hợp tuổi chủ nhà

Chọn ngày định cúng để biết giờ đẹp, ngày ấy hợp hay xung tuổi chủ nhà, và có bài khấn điền sẵn tên, địa chỉ, ngày âm lịch.

  • Giờ hoàng đạo của đúng ngày bạn định cúng
  • Ngày ấy hợp hay xung với tuổi chủ nhà
  • Bài khấn điền sẵn tên, địa chỉ và ngày âm lịch
  • Hướng tốt để đặt mâm trong ngày ấy