Bỏ qua trình đơn

Vòng đời

Văn khấn giỗ hết

Đến bài khấn Bản ngắn gọn

Ý nghĩa

Giỗ hết, tên Hán Việt là đại tường, là ngày giỗ tròn hai năm kể từ khi người thân mất. Theo nếp xưa, tang cha mẹ gọi là tang ba năm, nhưng thực ra kéo dài chừng hơn hai năm, nên giỗ tròn hai năm là giỗ cuối cùng còn trong tang. Ngày này thường đi cùng lễ hết tang: con cháu bỏ khăn tang, áo tang, trở lại sinh hoạt bình thường mà vẫn giữ lòng tưởng nhớ.

Lễ hết tang có hai tên gọi cổ: trừ phục (bỏ đồ tang) và đàm tế (lễ tế hết tang). Theo lệ cũ, lễ đàm tế làm sau giỗ hết vài tháng, thường tính tròn hai mươi bảy tháng kể từ ngày mất; ngày nay phần đông gia đình làm luôn trong ngày giỗ hết cho gọn. Có nhà nhân dịp này đưa bát hương, di ảnh người mất từ bàn thờ riêng lên ban thờ gia tiên, cùng thờ với tổ tiên.

Từ sau giỗ hết, các năm về sau gọi là giỗ thường, tức cát kỵ (giỗ lành). Nếu bạn làm giỗ tròn một năm thì dùng bài văn khấn giỗ đầu; từ năm thứ ba trở đi thì dùng bài văn khấn giỗ thường.

Thời điểm cúng

Giỗ hết làm vào đúng ngày mất âm lịch, tròn hai năm sau. Cũng như giỗ đầu, chiều hôm trước làm lễ tiên thường (lễ cúng chiều hôm trước) báo với thần linh, tổ tiên; sáng hoặc trưa hôm sau làm lễ chính kỵ, kèm lễ hết tang nếu gia đình làm gộp.

Nhà nào giữ lệ đàm tế riêng thì chọn một ngày sau giỗ hết để làm, thường nhờ bậc cao niên trong họ xem giúp. Giỗ hết vẫn còn trong tang nên theo nếp chung làm đúng ngày; nếu thật cần thì làm sớm hơn chứ không làm muộn hơn.

Cách sắm lễ

Lễ vật giống giỗ đầu nhưng thường chu đáo hơn vì có mời họ hàng, làng xóm về dự lễ hết tang: hương, đèn nến, hoa tươi, đĩa ngũ quả, trầu cau, rượu, trà, chén nước, và mâm cỗ gồm xôi, gà luộc, giò chả, canh, nem, món xào, kèm món người mất lúc sinh thời ưa thích. Có nhà làm cỗ chay.

Cho lễ hết tang, con cháu chuẩn bị sẵn khăn tang, áo tang (và gậy chống, nếu còn giữ) để hóa cùng vàng mã sau lễ. Nhà có ban thờ Thổ công riêng thì đặt một lễ nhỏ ở đó để khấn thần linh; nhà có ban Phật thì dâng lễ chay riêng, không đặt đồ mặn lên ban Phật.

Nếu gia đình đưa bát hương, di ảnh người mất lên ban thờ gia tiên, nên lau dọn, sắp xếp lại ban thờ từ hôm trước; việc này nhiều nơi nhờ bậc cao niên hoặc người có kinh nghiệm làm giúp. Vàng mã sắm vừa phải.

Các bước hành lễ

  1. Lau dọn ban thờ gia tiên và bàn thờ người mất, thay nước, thay hoa từ hôm trước.
  2. Làm lễ tiên thường chiều hôm trước: bày lễ gọn, thắp hương, khấn báo ngày mai là ngày giỗ hết và kính mời về hưởng.
  3. Sáng hôm chính kỵ, bày mâm cỗ, thắp đèn nến và 3 nén hương (hoặc 1 nén); con cháu còn mặc đồ tang, đứng sau người đứng khấn.
  4. Đọc phần khấn thần linh trước, rồi phần khấn gia tiên.
  5. Mời con cháu, họ hàng lần lượt thắp hương, vái lạy người mất.
  6. Chờ hết tuần hương, con cháu bỏ khăn tang, áo tang, đem hóa cùng vàng mã ở chỗ thoáng, an toàn.
  7. Rước bát hương, di ảnh người mất lên ban thờ gia tiên nếu gia đình làm việc này, rồi hạ lễ, mời họ hàng thụ lộc.

Bài khấn đầy đủ

Văn khấn giỗ hết

Khấn thần linh:

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Thần linh cai quản trong xứ này.

Tín chủ con là: (họ tên)

Ngụ tại: (địa chỉ)

Hôm nay là ngày (ngày) tháng (tháng) năm (năm), chính ngày giỗ hết (đại tường) của (cụ/ông/bà) (tên người mất), con cháu làm lễ hết tang.

Chúng con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, kim ngân trà quả, đốt nén hương thơm, dâng lên trước án, kính mời chư vị Tôn thần giáng lâm chứng giám.

Cúi xin chư vị Tôn thần cho phép hương linh (cụ/ông/bà) (tên người mất) cùng tổ tiên nội ngoại được về nhà hưởng lễ, phù hộ cho toàn gia chúng con bình an.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin chứng giám.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Khấn gia tiên:

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Con kính lạy các cụ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Bá thúc Đệ huynh, Cô di Tỷ muội họ nội họ ngoại cùng toàn thể hương linh gia tiên.

Tín chủ con là (họ tên) cùng toàn thể gia quyến, ngụ tại (địa chỉ).

Hôm nay là ngày (ngày) tháng (tháng) năm (năm), chính ngày giỗ hết của (cụ/ông/bà) (tên người mất).

Hưởng thọ: (hưởng thọ) tuổi.

Mộ phần táng tại: (nơi an táng).

Ngày tháng thoi đưa, người khuất bóng đã tròn hai năm. Âm dương cách biệt, con cháu thương nhớ khôn nguôi, công ơn như trời cao biển rộng chưa báo đáp được.

Nay tang kỳ đã mãn, con cháu kính cẩn làm lễ trừ phục, xin phép được bỏ khăn áo tang, nhưng lòng hiếu kính muôn đời không đổi.

Chúng con thành tâm sắm sửa hương hoa lễ vật, cỗ bàn trà quả, đốt nén hương thơm, dâng lên trước án.

Kính mời hương linh (cụ/ông/bà) (tên người mất) về đây chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, từ nay cùng tổ tiên nội ngoại hưởng hương khói nơi ban thờ gia tiên.

Kính mời các cụ tổ tiên nội ngoại cùng về hâm hưởng.

Cúi xin phù hộ độ trì cho con cháu mạnh khỏe bình an, gia đạo hưng long, trên thuận dưới hòa.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin chứng giám.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Bài khấn ngắn gọn

Văn khấn giỗ hết

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.

Con kính lạy tổ tiên nội ngoại cùng hương linh (cụ/ông/bà) (tên người mất).

Tín chủ con là (họ tên), ngụ tại (địa chỉ).

Hôm nay là ngày (ngày) tháng (tháng) năm (năm), chính ngày giỗ hết của (cụ/ông/bà) (tên người mất).

Tang kỳ đã mãn, con cháu thành tâm sắm lễ, làm lễ hết tang, dâng nén hương thơm.

Cúi xin chư vị Tôn thần cho phép hương linh cùng tổ tiên về hưởng lễ, phù hộ con cháu bình an.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Lưu ý

Trong lễ, con cháu còn mặc đồ tang, xong lễ mới bỏ ra và đem hóa; cách làm cụ thể mỗi nơi một khác, nên hỏi bậc cao niên trong họ. Người đứng khấn thường là con trưởng hoặc cháu đích tôn; đọc chậm, rõ, vừa đủ nghe, khấn thầm cũng được. Khấn lễ tiên thường thì đổi câu “chính ngày giỗ hết” thành “ngày mai là chính ngày giỗ hết”.

Hóa khăn áo tang và vàng mã ở chỗ thoáng, xa mái nhà và đồ dễ cháy, có người trông đến khi tàn hẳn. Theo quan niệm dân gian, sau lễ hết tang gia đình mới lại tổ chức việc vui như cưới xin, mừng thọ.

Nội dung trên tham khảo theo phong tục cổ truyền, mang tính tùy tâm; lễ vật và lời khấn có thể khác đôi chút theo vùng miền và nếp riêng của mỗi gia đình.

Câu hỏi thường gặp

Giỗ hết là giỗ năm thứ mấy?

Giỗ hết (đại tường) là giỗ tròn hai năm kể từ ngày mất, tính theo âm lịch. Đây là giỗ cuối cùng còn trong tang.

Lễ trừ phục, đàm tế là gì?

Trừ phục là bỏ đồ tang, đàm tế là lễ tế hết tang. Lệ cũ làm sau giỗ hết vài tháng, nay phần đông gia đình làm gộp ngay trong ngày giỗ hết.

Khăn tang, áo tang xử lý thế nào sau lễ?

Phần đông gia đình đem hóa cùng vàng mã sau lễ hết tang, ở chỗ thoáng và an toàn. Nhà nào có nếp riêng thì theo nếp nhà.

Khi nào đưa bát hương người mất lên ban thờ gia tiên?

Nhiều nhà làm việc này sau giỗ hết, khi đã mãn tang; có nơi làm sớm hơn, sau lễ 100 ngày hoặc sau giỗ đầu. Nên hỏi bậc cao niên trong họ và làm theo nếp nhà.

Sau giỗ hết thì cúng giỗ thế nào?

Từ năm thứ ba trở đi là giỗ thường, còn gọi cát kỵ (giỗ lành), làm hằng năm vào ngày mất, dùng bài văn khấn giỗ thường.

Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong

Ứng vào việc của bạn

Ngày giờ cúng hợp tuổi chủ nhà

Chọn ngày định cúng để biết giờ đẹp, ngày ấy hợp hay xung tuổi chủ nhà, và có bài khấn điền sẵn tên, địa chỉ, ngày âm lịch.

  • Giờ hoàng đạo của đúng ngày bạn định cúng
  • Ngày ấy hợp hay xung với tuổi chủ nhà
  • Bài khấn điền sẵn tên, địa chỉ và ngày âm lịch
  • Hướng tốt để đặt mâm trong ngày ấy