Bỏ qua trình đơn

Lễ tiết

Văn khấn cúng chúng sinh (cô hồn)

Đến bài khấn Bản ngắn gọn

Ý nghĩa

Cúng chúng sinh, dân gian quen gọi là cúng cô hồn, là lễ cúng dành cho những vong linh không nơi nương tựa, không có người thân thờ cúng: người chết đường chết chợ, chết nơi đất khách, chết trẻ không con cháu. Theo quan niệm dân gian, tháng Bảy âm lịch là lúc các vong linh ấy được tha về dương thế, đói khát lang thang, nên người sống sắm chút lễ mọn thí cho họ.

Lễ này xuất phát từ lòng thương người của người Việt, “thương người như thể thương thân”, không nỡ để những linh hồn cô quạnh đói lạnh. Nhà chùa gọi là lễ thí thực (bố thí thức ăn), thường làm cùng mùa Vu Lan. Khác lễ gia tiên, lễ cúng chúng sinh mang ý bố thí: lễ vật đơn sơ, bày ngoài trời, lời khấn chủ yếu cầu cho các vong linh được no đủ, sớm siêu thoát.

Nếu bạn cúng tổ tiên, ông bà trên ban thờ trong nhà ngày rằm tháng Bảy thì dùng bài Văn khấn rằm tháng Bảy (Vu Lan). Theo nếp phổ biến, lễ chúng sinh làm sau cùng, sau lễ Phật, lễ thần linh và gia tiên. Ở Nam Bộ, nhiều cửa hàng còn cúng cô hồn vào mùng 2 và 16 âm lịch hằng tháng.

Thời điểm cúng

Lễ cúng chúng sinh thường làm trong tháng Bảy âm lịch. Nhiều nhà cúng đúng ngày Rằm, cùng ngày cúng gia tiên; cũng có nhà cúng vào một ngày trong khoảng từ mùng 2 đến Rằm tháng Bảy. Giờ cúng phổ biến là chiều tối, khi trời đã tắt nắng; theo quan niệm dân gian, vong linh sợ ánh nắng nên không cúng vào buổi sáng.

Cách sắm lễ

Lễ cúng chúng sinh đơn sơ, cốt ở lòng thương: cháo trắng nấu loãng, gạo, muối, bỏng ngô, bánh kẹo, hoa quả, ngô khoai luộc, nước lọc, hương, nến, ít tiền lẻ, vàng mã và quần áo giấy nhiều màu. Ở miền Bắc có nơi đổ cháo vào những chiếc lá đa cuộn lại, dân gian gọi là cháo lá đa. Ở miền Nam, mâm cúng hay có thêm khoai lang luộc, mía chặt khúc.

Cháo trắng múc ra những bát nhỏ hoặc cốc nhỏ; gạo và muối để chung một đĩa hoặc chia gói nhỏ. Lễ vật bày trên mâm hoặc mẹt đặt ở sân, trước cổng, trước cửa nhà, không đưa vào trong nhà. Không cần mâm cao cỗ đầy, cũng không đặt lên ban thờ gia tiên.

Vàng mã, quần áo giấy dùng vừa phải. Tiền lẻ, bánh kẹo chọn loại sạch để sau lễ chia cho trẻ nhỏ và người qua đường.

Các bước hành lễ

  1. Bày mâm lễ ngoài sân, trước cổng hoặc trước cửa nhà vào chiều tối, không đặt trong nhà.
  2. Múc cháo trắng ra bát nhỏ, bày gạo muối, bỏng ngô, bánh kẹo, quả, nước, tiền lẻ, vàng mã, quần áo giấy.
  3. Thắp nến, thắp hương (có nơi cắm hương lên từng món lễ), đứng hướng ra ngoài, vái rồi đọc bài khấn.
  4. Chờ hết tuần hương, hóa vàng mã, quần áo giấy ở chỗ trống, an toàn.
  5. Rải một ít gạo muối ra sân, ngõ; chia bánh kẹo, tiền lẻ cho trẻ nhỏ, người qua đường (ở Nam Bộ có tục để mọi người “giật cô hồn”).
  6. Dọn sạch nơi cúng; theo quan niệm dân gian, không mang lễ vật cúng chúng sinh vào nhà.

Bài khấn đầy đủ

Văn khấn cúng chúng sinh (cô hồn)

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát! (3 lần)

Con kính lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát, Đức Tiêu Diện Đại Sĩ.

Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa cùng chư vị Thần linh cai quản xứ này.

Tín chủ con là: (họ tên)

Ngụ tại: (địa chỉ)

Hôm nay là ngày (ngày) tháng Bảy năm (năm), nhân tiết Trung Nguyên, mùa Vu Lan, ngày xá tội vong nhân.

Tín chủ con thành tâm sửa biện hương hoa, cháo trắng, gạo muối, bỏng bánh, hoa quả, nước trong cùng vàng mã, áo quần, bày ra trước cửa, cúng thí cho các vong linh cô hồn.

Chúng con kính mời các vong linh cô hồn, thập loại chúng sinh, già trẻ gái trai, không nơi nương tựa, không người thờ cúng.

Kính mời các vong linh chết đường chết chợ, chết nơi đất khách quê người, chết non chết yểu, không mồ không mả, lang thang nơi đầu đường xó chợ, bến nước gốc cây, đồng không mông quạnh.

Kính mời các vong linh y thảo phụ mộc, phảng phất quanh đây, trong xóm làng khu vực này.

Cùng về đây đồng lai thụ hưởng, no lòng một bữa, bớt phần đói lạnh.

Cúi xin chư Phật, chư Bồ Tát từ bi tiếp độ, cho các vong linh được nương nhờ cửa Phật, sớm thoát chốn u minh, siêu sinh tịnh độ.

Thụ hưởng xong rồi, xin các vong linh hoan hỷ lên đường, để gia đình tín chủ cùng xóm giềng được bình an, trên dưới yên vui.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Bài khấn ngắn gọn

Văn khấn cúng chúng sinh (cô hồn)

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Con kính lạy Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát cùng chư vị Thần linh cai quản xứ này.

Tín chủ con là: (họ tên)

Ngụ tại: (địa chỉ)

Hôm nay là ngày (ngày) tháng Bảy năm (năm), tín chủ con thành tâm sắm cháo trắng, gạo muối, bánh trái, hoa quả, nước trong, cúng thí cho các vong linh cô hồn không nơi nương tựa.

Kính mời các vong linh gần xa cùng về thụ hưởng, no đủ một bữa, sớm được nương nhờ cửa Phật, siêu sinh tịnh độ.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Lưu ý

Lễ đặt ngoài trời hoặc trước cửa, không đưa vào trong nhà. Khi khấn giữ thái độ nhẹ nhàng, thương xót, nói năng từ tốn. Ở Nam Bộ có tục “giật cô hồn”: cúng xong, người đứng khấn để trẻ nhỏ, hàng xóm, người qua đường vào lấy lễ; nếu làm, nên bày lễ ở chỗ rộng, tránh lòng đường để không xô đẩy, gây tai nạn.

Hóa vàng mã, quần áo giấy ở chỗ trống, xa dây điện, xe cộ, cây khô; đứng trông đến khi tàn hẳn. Gạo muối chỉ rải một ít, không vương vãi ra lòng đường; cháo thừa đổ vào gốc cây hoặc chỗ đất, không đổ xuống cống. Dọn sạch nơi cúng sau lễ để giữ vệ sinh chung.

Nội dung trên tham khảo theo phong tục cổ truyền, mang tính tùy tâm; lễ vật và lời khấn có thể khác đôi chút theo vùng miền và nếp riêng của mỗi gia đình.

Bài tụng kèm theo

Các bài tụng thường dùng trong nhà cho lễ này. Mỗi chùa có thể đọc khác nhau vài chữ, nhà theo chùa nào thì đọc theo nghi thức chùa ấy.

Chú Đại Bi

Bài chú gắn với Bồ Tát Quán Thế Âm, nói lên lòng thương rộng lớn. Chú là âm đọc giữ theo tiếng Phạn qua chữ Hán nên không dịch nghĩa từng chữ; người tụng chỉ cần đọc chậm, rõ, lòng yên.

Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần).

Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại Bi tâm đà la ni.

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da.

Nam mô a rị da bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da.

Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da, bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà.

Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha.

Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô, kiết mông độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra.

Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô, ma ra hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha.

Tất đà dạ, ta bà ha.

Ma ha tất đà dạ, ta bà ha.

Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha.

Na ra cẩn trì, ta bà ha.

Ma ra na ra, ta bà ha.

Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha.

Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha.

Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha.

Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha.

Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha.

Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.

Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.

Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.

Án, tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ ta bà ha.

Câu mở đầu đọc ba lần. Nhà thường tụng trọn bài một lần, có nhà tụng ba lần.

Chú Vãng Sanh

Bài chú ngắn, thường tụng khi cúng người đã khuất hay cúng cô hồn, cầu cho người đi được về nơi an lành.

Nam mô a di đa bà dạ, đa tha già đa dạ, đa điệt dạ tha, a di rị đô bà tỳ, a di rị đa tất đam bà tỳ, a di rị đa tỳ ca lan đế, a di rị đa tỳ ca lan đa, già di nị, già già na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha.

Thường đọc ba lần.

Kệ hồi hướng

Bài kệ đọc sau cùng: dâng phần phước lành của buổi tụng niệm cho mọi người, mọi loài, không giữ riêng cho mình.

Nguyện dĩ thử công đức,

Phổ cập ư nhất thiết,

Ngã đẳng dữ chúng sanh,

Giai cộng thành Phật đạo.

Nhiều nhà đọc bằng lời Việt: Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo.

Câu hỏi thường gặp

Cúng cô hồn tháng 7 vào ngày nào, mấy giờ?

Thường trong tháng Bảy âm lịch; nhiều nhà cúng ngày Rằm hoặc một ngày từ mùng 2 đến Rằm. Giờ cúng phổ biến là chiều tối, khi trời đã tắt nắng.

Mâm cúng cô hồn gồm những gì?

Cháo trắng loãng, gạo, muối, bỏng ngô, bánh kẹo, hoa quả, ngô khoai luộc, nước, hương nến, tiền lẻ, vàng mã và quần áo giấy. Lễ đơn sơ là đủ.

Vì sao cúng chúng sinh phải bày ngoài trời?

Vì đây là lễ thí cho các vong linh không nơi nương tựa. Theo nếp dân gian, lễ bày ở sân hoặc trước cửa, không đưa vào trong nhà và không đặt lên ban thờ gia tiên.

Giật cô hồn là gì?

Đó là tục ở Nam Bộ: cúng xong, người đứng khấn để mọi người, nhất là trẻ nhỏ, vào lấy bánh kẹo, tiền lẻ trên mâm. Nhiều người coi đó là cách san sẻ lộc cho nhau.

Cửa hàng cúng cô hồn mùng 2 và 16 hằng tháng có dùng bài này được không?

Được. Bạn đọc cùng lối khấn này, thay câu ngày tháng bằng đúng ngày âm lịch hôm cúng và bỏ đoạn “nhân tiết Trung Nguyên, mùa Vu Lan”.

Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong

Ứng vào việc của bạn

Ngày giờ cúng hợp tuổi chủ nhà

Chọn ngày định cúng để biết giờ đẹp, ngày ấy hợp hay xung tuổi chủ nhà, và có bài khấn điền sẵn tên, địa chỉ, ngày âm lịch.

  • Giờ hoàng đạo của đúng ngày bạn định cúng
  • Ngày ấy hợp hay xung với tuổi chủ nhà
  • Bài khấn điền sẵn tên, địa chỉ và ngày âm lịch
  • Hướng tốt để đặt mâm trong ngày ấy