Quan hệ địa chi
Lục hại
Là gì
Lục hại là sáu cặp địa chi làm hại nhau: Tý với Mùi, Sửu với Ngọ, Dần với Tỵ, Mão với Thìn, Thân với Hợi, Dậu với Tuất. Mỗi cặp hình thành vì một chi xung với chi hợp của chi kia. Theo quan niệm dân gian, cặp lục hại dễ sinh hiềm khích, ngấm ngầm cản nhau.
Tra nhanh
- Tý và Mùi
- Chuột, Dê
- Sửu và Ngọ
- Trâu, Ngựa
- Dần và Tỵ
- Hổ, Rắn (còn tương hình)
- Mão và Thìn
- Mèo, Rồng
- Thân và Hợi
- Khỉ, Lợn
- Dậu và Tuất
- Gà, Chó
- Cách hình thành
- chi xung với chi lục hợp của mình
- Mỗi chi
- có đúng một chi lục hại
Hình tượng và tên gọi
Hại là làm tổn hại, cản trở. Lục hại là sáu cặp gây tổn hại cho nhau. Xung là va chạm thẳng mặt; hại được người xưa hiểu như cái cản từ bên cạnh, khó thấy hơn.
Vì sao lại như vậy
Lục hại sinh ra từ lục hợp và lục xung. Mỗi chi có một chi hợp với mình. Chi nào xung với chi hợp ấy thì thành chi hại mình, vì nó phá mất mối hợp của mình.
Làm từng cặp. Tý hợp Sửu, Mùi xung Sửu, nên Mùi hại Tý. Sửu hợp Tý, Ngọ xung Tý, nên Ngọ hại Sửu. Dần hợp Hợi, Tỵ xung Hợi, nên Tỵ hại Dần. Mão hợp Tuất, Thìn xung Tuất, nên Thìn hại Mão. Thân hợp Tỵ, Hợi xung Tỵ, nên Hợi hại Thân. Dậu hợp Thìn, Tuất xung Thìn, nên Tuất hại Dậu.
Trên vòng mười hai địa chi, sáu cặp hại đứng đối xứng nhau qua một đường thẳng đi qua khe giữa Mão với Thìn và khe giữa Dậu với Tuất. Đường này vuông góc với trục đối xứng của lục hợp.
Hại không suy ra từ ngũ hành. Bốn trong sáu cặp có hành tương sinh: Dần (Mộc) sinh Tỵ (Hỏa), Thân (Kim) sinh Hợi (Thủy), Ngọ (Hỏa) sinh Sửu (Thổ), Tuất (Thổ) sinh Dậu (Kim). Chỉ Tý (Thủy) với Mùi (Thổ) và Mão (Mộc) với Thìn (Thổ) là có khắc.
Hợp và khắc
Mỗi chi có một chi lục hại, quan hệ hai chiều: Tý hại Mùi thì Mùi cũng hại Tý.
Dần với Tỵ vừa hại vừa tương hình (cùng nhóm vô ân chi hình Dần, Tỵ, Thân). Thân với Hợi là lục hại, hai chi này nằm chung nhóm tứ hành xung Dần, Thân, Tỵ, Hợi nhưng không xung nhau.
Hai cặp Mão với Thìn, Dậu với Tuất là hai chi liền nhau trong cùng một nhóm tam hội: Mão, Thìn thuộc phương Mộc; Dậu, Tuất thuộc phương Kim.
Dùng trong đời sống
Trong xem tuổi dân gian, lục hại ít được nói bằng lục xung, nhưng vẫn hay được nhắc khi xem tuổi vợ chồng, tuổi người cùng làm. Người xưa cho rằng cặp hại dễ hiểu lầm và để bụng. Họ còn cho rằng mối quan hệ này dễ bị người thứ ba chen vào. Điều này khớp với gốc của hại: chi hại là chi phá mất mối hợp của mình.
Khi chọn ngày cho việc cần hòa khí như dạm ngõ, ký kết, có người tránh cả ngày mang chi hại với tuổi mình, bên cạnh ngày xung. Ví dụ người tuổi Tý tránh ngày Mùi.
Cách hiểu đúng mực: hại là lời nhắc để hai bên nói rõ, sòng phẳng, đừng để chuyện nhỏ tích lại. Nó không định trước kết cục của mối quan hệ.
Mỗi người có bốn chi trong lá số tám chữ (Bát Tự): chi năm, tháng, ngày, giờ. Cặp hại giữa chi năm của hai người chỉ là một lớp. Phải xem đủ hai lá số mới nói được hai người hợp tới đâu.
Điều ít người để ý
Muốn nhớ lục hại, không cần học thuộc. Lấy chi lục hợp của mình, tìm chi xung với nó, đó là chi hại mình. Ví dụ tuổi Dậu hợp Thìn, Thìn xung Tuất, vậy Dậu hại Tuất.
Thân với Hợi và Dần với Tỵ nằm chung nhóm tứ hành xung nên hay bị gọi là xung. Quan hệ thật của hai cặp ấy là lục hại.
Hai cặp Mão với Thìn, Dậu với Tuất là hai tuổi sinh liền nhau: 1987 (Đinh Mão) với 1988 (Mậu Thìn), 1993 (Quý Dậu) với 1994 (Giáp Tuất). Anh chị em sinh sát nhau cũng có thể rơi vào cặp hại mà ít ai để ý.
Năm sinh tính theo năm âm lịch. Người sinh đầu năm 1991 dương lịch mà trước Tết là tuổi Canh Ngọ của năm 1990, nên chi hại là Sửu, chưa phải Tý.
Phân biệt, đừng nhầm
Hại khác phá. Lục phá là sáu cặp khác hẳn, như Tý với Dậu. Hai quan hệ hay được gọi chung trong cụm xung hình hại phá, nhưng không có cặp nào vừa hại vừa phá.
Hại khác xung. Xung là hai chi đối diện, cách đúng 6 năm. Hại thì khoảng cách tùy cặp: Mão với Thìn cách 1 năm, Dần với Tỵ cách 3 năm, Tý với Mùi cách 5 hoặc 7 năm.
Câu hỏi thường gặp
Tuổi Tý hại tuổi nào?
Tuổi Tý lục hại với tuổi Mùi. Lý do: Tý hợp Sửu, mà Mùi xung Sửu.
Sáu cặp lục hại gồm những tuổi nào?
Tý với Mùi, Sửu với Ngọ, Dần với Tỵ, Mão với Thìn, Thân với Hợi, Dậu với Tuất.
Lục hại và lục xung khác nhau thế nào?
Lục xung là hai chi đứng đối diện, cách đúng 6 năm. Lục hại là chi xung với chi hợp của mình, khoảng cách tùy cặp.
Tuổi Dần và tuổi Tỵ có hợp nhau không?
Dần và Tỵ là lục hại, đồng thời tương hình (vô ân chi hình). Theo quan niệm dân gian, cặp này nên nói rõ ràng, nhường nhịn khi cùng làm việc.
Tuổi lục hại có lấy nhau được không?
Được. Lục hại là một yếu tố tham khảo trong xem tuổi. Muốn biết hai người hợp tới đâu thì phải xem đủ hai lá số tám chữ.
Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong
Ứng vào việc của bạn
Ngũ hành trong lá số của bạn
Mệnh năm sinh chỉ lấy từ năm sinh, tức hai trong tám chữ. Lập lá số tám chữ để thấy hành nào đang vượng, hành nào đang thiếu trong đời bạn.
- Tám chữ can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh
- Hành nào vượng, hành nào thiếu trong lá số
- Can chi của bạn hợp, xung với những tuổi nào
- Lập lá số miễn phí, đọc luận giải chuyên sâu khi cần
