Bỏ qua trình đơn

Quan hệ địa chi

Tứ hành xung

Là gì

Tứ hành xung là cách dân gian gom mười hai con giáp thành ba nhóm bốn tuổi: Tý, Ngọ, Mão, Dậu; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Mỗi nhóm chỉ chứa hai cặp lục xung. Các cặp còn lại trong nhóm có quan hệ khác, có cặp còn là lục hợp.

Tra nhanh

Nhóm 1
Tý, Ngọ, Mão, Dậu (Chuột, Ngựa, Mèo, Gà)
Nhóm 2
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi (Rồng, Chó, Trâu, Dê)
Nhóm 3
Dần, Thân, Tỵ, Hợi (Hổ, Khỉ, Rắn, Lợn)
Cặp xung thật nhóm 1
Tý và Ngọ, Mão và Dậu
Cặp xung thật nhóm 2
Thìn và Tuất, Sửu và Mùi
Cặp xung thật nhóm 3
Dần và Thân, Tỵ và Hợi
Cặp lục hợp trong nhóm
Dần và Hợi, Tỵ và Thân
Cặp không có quan hệ
Ngọ và Dậu, Thìn và Mùi
Khoảng cách tuổi
cách 6 năm là lục xung; cách 3 hoặc 9 năm là cùng nhóm nhưng không xung

Hình tượng và tên gọi

Tứ là bốn. Tứ hành xung là cách nói quen trong dân gian, chỉ bốn tuổi trong một nhóm được cho là xung nhau.

Khi xem lá số, ba nhóm này có tên riêng theo vị trí trong mùa. Tý, Ngọ, Mão, Dậu là tứ chính, bốn chi ở bốn hướng chính. Dần, Thân, Tỵ, Hợi là tứ sinh, bốn chi mở đầu bốn mùa. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là tứ mộ hay tứ khố, bốn chi khép lại bốn mùa, nơi cất giữ.

Vì sao lại như vậy

Trên vòng mười hai địa chi, bốn chi trong một nhóm đứng ở bốn góc một hình vuông, mỗi chi cách chi kế ba bậc. Hai chi ở hai góc đối nhau cách sáu bậc, đó là lục xung. Vì thế mỗi nhóm có đúng hai cặp xung, đan chéo nhau.

Ba nhóm ứng với ba chặng của mùa. Tý, Ngọ, Mão, Dậu nằm giữa bốn mùa và ở bốn hướng: Tý chính Bắc, Ngọ chính Nam, Mão chính Đông, Dậu chính Tây. Dần, Tỵ, Thân, Hợi mở đầu xuân, hạ, thu, đông. Thìn, Mùi, Tuất, Sửu khép lại xuân, hạ, thu, đông và đều thuộc Thổ.

Mỗi nhóm tam hợp lấy đúng một chi đầu mùa, một chi giữa mùa, một chi cuối mùa, tức một chi từ mỗi nhóm tứ hành xung. Ví dụ Thân (tứ sinh), Tý (tứ chính), Thìn (tứ mộ).

Việc gom thành nhóm bốn dựa vào vị trí. Còn quan hệ thật giữa từng đôi thì phải xét riêng, vì các cặp cách nhau ba bậc có cặp hình, cặp phá, cặp hại, cặp hợp, và có cặp không liên quan gì.

Hợp và khắc

Nhóm Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Tý và Ngọ: lục xung. Mão và Dậu: lục xung. Tý và Mão: tương hình (vô lễ chi hình). Tý và Dậu: lục phá. Mão và Ngọ: lục phá. Ngọ và Dậu: không có quan hệ hợp, xung, hình, hại hay phá.

Nhóm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Thìn và Tuất: lục xung. Sửu và Mùi: lục xung, đồng thời tương hình. Sửu và Tuất: tương hình. Mùi và Tuất: lục phá, đồng thời tương hình. Sửu và Thìn: lục phá. Thìn và Mùi: không có quan hệ hợp, xung, hình, hại hay phá.

Nhóm Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Dần và Thân: lục xung, đồng thời tương hình. Tỵ và Hợi: lục xung. Dần và Hợi: lục hợp (hóa Mộc), kèm lục phá. Tỵ và Thân: lục hợp (hóa Thủy), kèm lục phá và tương hình. Dần và Tỵ: lục hại, đồng thời tương hình. Thân và Hợi: lục hại.

Tính chung, ba nhóm có 18 cặp. Chỉ 6 cặp là lục xung. 2 cặp là lục hợp, và 2 cặp không vướng quan hệ nào.

Dùng trong đời sống

Khi xem tuổi cưới hỏi, làm ăn, nhiều người thấy hai tuổi chung một nhóm tứ hành xung là ngại. Cách làm đúng hơn là tra đúng cặp của mình trong bảng trên. Chỉ cặp lục xung mới là xung.

Ví dụ chồng tuổi Dần, vợ tuổi Hợi thường bị nói là phạm tứ hành xung. Thật ra Dần với Hợi là lục hợp, dân gian xếp vào nhóm tuổi hợp. Chồng tuổi Ngọ, vợ tuổi Dậu cũng không xung, không hình, không hại.

Dù tra đúng, tuổi năm sinh vẫn chỉ là một chi trong bốn chi của lá số tám chữ (Bát Tự). Tuổi hợp hay xung là một yếu tố tham khảo, không phải lời phán cho một cuộc hôn nhân hay một mối làm ăn.

Điều ít người để ý

Tên gọi tứ hành xung dễ khiến người ta nghĩ cả bốn tuổi xung nhau từng đôi. Thực tế mỗi tuổi chỉ xung đúng một tuổi trong nhóm, là tuổi đứng đối diện, cách 6 năm.

Hai tuổi cách nhau 3 năm hoặc 9 năm luôn cùng một nhóm tứ hành xung nhưng không bao giờ lục xung. Ví dụ 1987 (Đinh Mão) và 1990 (Canh Ngọ) cùng nhóm, quan hệ thật là lục phá.

Nhóm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi đều thuộc Thổ. Cùng một hành nên nhiều người nghĩ không xung được, nhưng Thìn với Tuất, Sửu với Mùi vẫn là lục xung vì đứng đối diện nhau.

Người sinh đầu năm 1986 dương lịch mà trước Tết là tuổi Ất Sửu của năm 1985, chưa phải Bính Dần. Người này thuộc nhóm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

Phân biệt, đừng nhầm

Tứ hành xung khác lục xung. Lục xung là sáu cặp đối diện. Tứ hành xung là ba nhóm bốn, mỗi nhóm gồm hai cặp lục xung cộng thêm bốn cặp có quan hệ khác.

Tứ hành xung cũng khác xung khắc về mệnh. Mệnh là hành nạp âm của năm sinh, xét riêng bằng sinh khắc ngũ hành.

Câu hỏi thường gặp

Tứ hành xung gồm những tuổi nào?

Ba nhóm: Tý, Ngọ, Mão, Dậu; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Mỗi nhóm có hai cặp lục xung.

Tuổi Dần và tuổi Hợi có xung không?

Không. Dần và Hợi là lục hợp (hóa Mộc), kèm quan hệ lục phá. Tuổi xung của Dần là Thân, của Hợi là Tỵ.

Tuổi Tỵ và tuổi Thân có hợp không?

Tỵ và Thân là lục hợp (hóa Thủy), đồng thời có lục phá và nằm trong nhóm tương hình Dần, Tỵ, Thân. Hai tuổi này không lục xung.

Tuổi Ngọ và tuổi Dậu có xung không?

Không. Ngọ và Dậu không có quan hệ hợp, xung, hình, hại hay phá.

Tuổi Tý và tuổi Mão có xung không?

Không xung. Tý và Mão là tương hình, gọi là vô lễ chi hình (hình vì vô lễ).

Tuổi tứ hành xung có lấy nhau được không?

Được. Trong mỗi nhóm chỉ có hai cặp lục xung, các cặp còn lại có quan hệ khác, có cặp là lục hợp. Tuổi chỉ là một yếu tố tham khảo khi cưới hỏi.

Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong

Ứng vào việc của bạn

Ngũ hành trong lá số của bạn

Mệnh năm sinh chỉ lấy từ năm sinh, tức hai trong tám chữ. Lập lá số tám chữ để thấy hành nào đang vượng, hành nào đang thiếu trong đời bạn.

  • Tám chữ can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh
  • Hành nào vượng, hành nào thiếu trong lá số
  • Can chi của bạn hợp, xung với những tuổi nào
  • Lập lá số miễn phí, đọc luận giải chuyên sâu khi cần