Bỏ qua trình đơn

Nạp âm

Nạp âm là gì

Là gì

Nạp âm là hành ngũ hành gán cho mỗi cặp can chi của năm, tức cái người ta hay gọi là mệnh theo năm sinh. Sáu mươi năm hoa giáp ghép từng đôi thành ba mươi nạp âm, mỗi hành có sáu. Ví dụ năm 1984 (Giáp Tý) và 1985 (Ất Sửu) cùng mệnh Hải Trung Kim.

Tra nhanh

Giáp Tý, Ất Sửu
Hải Trung Kim, năm 1924, 1925 hoặc 1984, 1985 hoặc 2044, 2045
Bính Dần, Đinh Mão
Lư Trung Hỏa, năm 1926, 1927 hoặc 1986, 1987
Mậu Thìn, Kỷ Tỵ
Đại Lâm Mộc, năm 1928, 1929 hoặc 1988, 1989
Canh Ngọ, Tân Mùi
Lộ Bàng Thổ, năm 1930, 1931 hoặc 1990, 1991
Nhâm Thân, Quý Dậu
Kiếm Phong Kim, năm 1932, 1933 hoặc 1992, 1993
Giáp Tuất, Ất Hợi
Sơn Đầu Hỏa, năm 1934, 1935 hoặc 1994, 1995
Bính Tý, Đinh Sửu
Giản Hạ Thủy, năm 1936, 1937 hoặc 1996, 1997
Mậu Dần, Kỷ Mão
Thành Đầu Thổ, năm 1938, 1939 hoặc 1998, 1999
Canh Thìn, Tân Tỵ
Bạch Lạp Kim, năm 1940, 1941 hoặc 2000, 2001
Nhâm Ngọ, Quý Mùi
Dương Liễu Mộc, năm 1942, 1943 hoặc 2002, 2003
Giáp Thân, Ất Dậu
Tuyền Trung Thủy, năm 1944, 1945 hoặc 2004, 2005
Bính Tuất, Đinh Hợi
Ốc Thượng Thổ, năm 1946, 1947 hoặc 2006, 2007
Mậu Tý, Kỷ Sửu
Tích Lịch Hỏa, năm 1948, 1949 hoặc 2008, 2009
Canh Dần, Tân Mão
Tùng Bách Mộc, năm 1950, 1951 hoặc 2010, 2011
Nhâm Thìn, Quý Tỵ
Trường Lưu Thủy, năm 1952, 1953 hoặc 2012, 2013
Giáp Ngọ, Ất Mùi
Sa Trung Kim, năm 1954, 1955 hoặc 2014, 2015
Bính Thân, Đinh Dậu
Sơn Hạ Hỏa, năm 1956, 1957 hoặc 2016, 2017
Mậu Tuất, Kỷ Hợi
Bình Địa Mộc, năm 1958, 1959 hoặc 2018, 2019
Canh Tý, Tân Sửu
Bích Thượng Thổ, năm 1960, 1961 hoặc 2020, 2021
Nhâm Dần, Quý Mão
Kim Bạch Kim, năm 1962, 1963 hoặc 2022, 2023
Giáp Thìn, Ất Tỵ
Phú Đăng Hỏa, năm 1964, 1965 hoặc 2024, 2025
Bính Ngọ, Đinh Mùi
Thiên Hà Thủy, năm 1966, 1967 hoặc 2026, 2027
Mậu Thân, Kỷ Dậu
Đại Trạch Thổ, năm 1968, 1969 hoặc 2028, 2029
Canh Tuất, Tân Hợi
Thoa Xuyến Kim, năm 1970, 1971 hoặc 2030, 2031
Nhâm Tý, Quý Sửu
Tang Đố Mộc, năm 1972, 1973 hoặc 2032, 2033
Giáp Dần, Ất Mão
Đại Khê Thủy, năm 1974, 1975 hoặc 2034, 2035
Bính Thìn, Đinh Tỵ
Sa Trung Thổ, năm 1976, 1977 hoặc 2036, 2037
Mậu Ngọ, Kỷ Mùi
Thiên Thượng Hỏa, năm 1978, 1979 hoặc 2038, 2039
Canh Thân, Tân Dậu
Thạch Lựu Mộc, năm 1920, 1921 hoặc 1980, 1981 hoặc 2040, 2041
Nhâm Tuất, Quý Hợi
Đại Hải Thủy, năm 1922, 1923 hoặc 1982, 1983 hoặc 2042, 2043

Hình tượng và tên gọi

Nạp là thu vào, âm là âm thanh. Tên gọi gắn với phép âm luật thời cổ: người xưa phối năm cung bậc âm thanh (cung, thương, giốc, chủy, vũ) vào sáu mươi cặp can chi để định hành. Cách phối ấy khá rắc rối; ngày nay người ta dùng thẳng bảng tra.

Mỗi nạp âm có một tên ba chữ Hán Việt, gồm một hình ảnh và một hành. Hải Trung Kim là vàng trong biển, Lư Trung Hỏa là lửa trong lò, Đại Lâm Mộc là cây rừng lớn, Lộ Bàng Thổ là đất ven đường.

Cùng một hành, sáu nạp âm mang sáu dáng khác nhau. Hành Thủy có nước khe suối nhỏ nhẹ (Giản Hạ Thủy) và có nước biển lớn mênh mông (Đại Hải Thủy).

Vì sao lại như vậy

Có mười thiên can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) và mười hai địa chi (Tý, Sửu, Dần, Mão…). Mỗi năm mang một cặp can chi. Can dương chỉ đi với chi dương, can âm chỉ đi với chi âm, nên chỉ có sáu mươi cặp, gọi là sáu mươi hoa giáp (lục thập hoa giáp). Hết sáu mươi năm thì vòng quay lại: năm 1924 và 1984 đều là Giáp Tý.

Sáu mươi cặp được ghép từng đôi liền nhau, một năm can dương với năm kế tiếp can âm, thành ba mươi đôi. Mỗi đôi mang một nạp âm. Giáp Tý và Ất Sửu là Hải Trung Kim; Bính Dần và Đinh Mão là Lư Trung Hỏa. Năm dương lịch số chẵn luôn là can dương, số lẻ là can âm, nên đôi nào cũng mở đầu bằng một năm chẵn.

Tên gọi lấy hình tượng hợp với cặp can chi. Người xưa giải thích Hải Trung Kim thế này: Tý và Sửu thuộc mùa đông, phương Bắc, chỗ nước dồn về thịnh nhất; Kim ở đây còn chìm, chưa lộ ra, nên gọi là vàng trong biển.

Hành nạp âm thường khác hành của can và của chi. Giáp thuộc Mộc, Tý thuộc Thủy, vậy mà Giáp Tý lại là Kim. Nạp âm là một lớp riêng, không cộng từ hành của hai chữ.

Hợp và khắc

Mỗi hành có sáu nạp âm. Kim: Hải Trung, Kiếm Phong, Bạch Lạp, Sa Trung, Kim Bạch, Thoa Xuyến. Mộc: Đại Lâm, Dương Liễu, Tùng Bách, Bình Địa, Tang Đố, Thạch Lựu. Thủy: Giản Hạ, Tuyền Trung, Trường Lưu, Thiên Hà, Đại Khê, Đại Hải. Hỏa: Lư Trung, Sơn Đầu, Tích Lịch, Sơn Hạ, Phú Đăng, Thiên Thượng. Thổ: Lộ Bàng, Thành Đầu, Ốc Thượng, Bích Thượng, Đại Trạch, Sa Trung.

Khi xét hợp khắc giữa hai mệnh, người ta dùng tương sinh và tương khắc của hành nạp âm. Ví dụ Hải Trung Kim (1984) gặp Lộ Bàng Thổ (1990): Thổ sinh Kim, được xem là hợp. Hải Trung Kim gặp Đại Lâm Mộc (1988): Kim khắc Mộc.

Dùng trong đời sống

Cách tra mệnh nạp âm: đổi ngày sinh ra năm âm lịch, rồi tìm năm ấy trong bảng tra nhanh ở trên để ra cặp can chi và nạp âm. Ví dụ sinh năm 1995 là Ất Hợi, mệnh Sơn Đầu Hỏa.

Mẹo nhớ can theo số cuối của năm: 0 là Canh, 1 Tân, 2 Nhâm, 3 Quý, 4 Giáp, 5 Ất, 6 Bính, 7 Đinh, 8 Mậu, 9 Kỷ. Chi là con giáp của năm. Có can và chi rồi thì dò bảng ra nạp âm.

Mệnh nạp âm được dùng nhiều trong đời sống: chọn màu, xem tuổi làm ăn, cưới hỏi. Nên dùng ở mức tham khảo. Mệnh năm sinh chỉ là một lớp, lấy từ hai chữ của năm trong tám chữ của lá số. Muốn biết thật mình thiếu hay thừa hành gì thì phải xem cả lá số tám chữ (Bát Tự), vì tháng, ngày, giờ sinh mới cho biết hành nào đang nhiều, hành nào đang thiếu.

Vì thế hành của mệnh và hành lá số cần thêm có thể khác hẳn nhau. Người mệnh Hải Trung Kim chưa hẳn cần thêm Kim.

Điều ít người để ý

Năm sinh tính theo năm âm lịch. Vì mỗi nạp âm gồm một năm chẵn và năm lẻ liền sau, người sinh trước Tết của năm lẻ vẫn giữ nguyên mệnh, còn người sinh trước Tết của năm chẵn thì đổi mệnh. Sinh 20/01/1985 là Giáp Tý, vẫn Hải Trung Kim. Sinh 20/01/1986 là Ất Sửu, mệnh Hải Trung Kim chứ chưa phải Lư Trung Hỏa của Bính Dần.

Năm chẵn và năm lẻ liền sau luôn cùng mệnh: 1990 và 1991 cùng Lộ Bàng Thổ; 2000 và 2001 cùng Bạch Lạp Kim.

Sau sáu mươi năm mệnh lặp lại: 1966 và 2026 cùng là Bính Ngọ, mệnh Thiên Hà Thủy.

Phân biệt, đừng nhầm

Mệnh nạp âm khác hành của con giáp. Tý là chi Thủy, nhưng người tuổi Tý có thể mang mệnh Kim (Giáp Tý), Thủy (Bính Tý), Hỏa (Mậu Tý), Thổ (Canh Tý) hoặc Mộc (Nhâm Tý).

Hai tên dễ nhầm: Sa Trung Kim (vàng trong cát, 1954, 1955, 2014, 2015) và Sa Trung Thổ (đất trong cát, 1976, 1977, 2036, 2037).

Câu hỏi thường gặp

Nạp âm là gì?

Nạp âm là hành gán cho mỗi cặp can chi trong sáu mươi năm hoa giáp, tức mệnh theo năm sinh. Có ba mươi nạp âm, mỗi hành sáu.

Sinh năm 1984 mệnh gì?

Năm 1984 là Giáp Tý, mệnh Hải Trung Kim (vàng trong biển). Nếu sinh tháng 1 hoặc tháng 2 dương lịch trước Tết thì là Quý Hợi 1983, mệnh Đại Hải Thủy.

Vì sao 60 năm chỉ có 30 nạp âm?

Vì hai năm liền nhau, một năm can dương và một năm can âm, được ghép chung một nạp âm. Sáu mươi năm chia đôi thành ba mươi.

Cách tính mệnh theo năm sinh thế nào?

Đổi ra năm âm lịch, tìm can chi của năm rồi dò bảng sáu mươi hoa giáp. Can lấy theo số cuối năm: 4 Giáp, 5 Ất, 6 Bính, 7 Đinh, 8 Mậu, 9 Kỷ, 0 Canh, 1 Tân, 2 Nhâm, 3 Quý.

Sinh năm 2026 mệnh gì?

Năm 2026 là Bính Ngọ, mệnh Thiên Hà Thủy (nước trên trời). Người sinh năm 1966 cũng mang mệnh này.

Mệnh nạp âm có cho biết mình thiếu hành gì không?

Không. Mệnh nạp âm chỉ là một lớp của năm sinh. Muốn biết thiếu hay thừa hành gì phải xem đủ lá số tám chữ theo năm, tháng, ngày, giờ sinh.

Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong

Ứng vào việc của bạn

Ngũ hành trong lá số của bạn

Mệnh năm sinh chỉ lấy từ năm sinh, tức hai trong tám chữ. Lập lá số tám chữ để thấy hành nào đang vượng, hành nào đang thiếu trong đời bạn.

  • Tám chữ can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh
  • Hành nào vượng, hành nào thiếu trong lá số
  • Can chi của bạn hợp, xung với những tuổi nào
  • Lập lá số miễn phí, đọc luận giải chuyên sâu khi cần