Nạp âm hành Thủy
Giản Hạ Thủy
Là gì
Giản Hạ Thủy là mệnh của người sinh năm 1996, 1997 (và 1936, 1937), tức hai năm Bính Tý, Đinh Sửu tính theo âm lịch. Đây là một nạp âm thuộc hành Thủy, tên gọi có nghĩa là nước dưới khe, nước khe suối trong núi.
Tra nhanh
- Hành
- Thủy
- Nghĩa tên
- Nước khe suối, dòng nước chảy dưới khe núi
- Can chi
- Bính Tý, Đinh Sửu
- Năm sinh
- Bính Tý 1936, 1996; Đinh Sửu 1937, 1997
- Con giáp
- Chuột (Bính Tý), Trâu (Đinh Sửu)
- Cùng hành
- Tuyền Trung Thủy, Trường Lưu Thủy, Thiên Hà Thủy, Đại Khê Thủy, Đại Hải Thủy
- Hành sinh
- Kim sinh Thủy; Thủy sinh Mộc
- Hành khắc
- Thổ khắc Thủy; Thủy khắc Hỏa
- Màu hợp
- đen, xanh dương (màu của chính hành Thủy); trắng, xám, ánh bạc (màu hành Kim, hành sinh ra Thủy)
- Màu kỵ
- vàng, nâu, màu đất (màu hành Thổ, hành khắc Thủy)
Hình tượng và tên gọi
Tên gọi có ba chữ. Giản là khe nước kẹp giữa hai sườn núi. Hạ là dưới. Thủy là nước. Ghép lại, Giản Hạ Thủy là dòng nước chảy dưới đáy khe, thứ nước bạn gặp khi men theo lối mòn trong núi.
Nước khe không rộng, không sâu. Nó trong, mát, len qua kẽ đá, uốn theo sườn núi và chảy quanh năm. Đó là hình ảnh người xưa chọn cho cặp năm này: có nước thật, nhưng là dòng nước nhỏ, chưa thành sông lớn. Trong sáu nạp âm của hành Thủy, đây là dòng nước khiêm tốn và gần gũi nhất.
Vì sao lại như vậy
Sáu mươi năm can chi, còn gọi là lục thập hoa giáp, được chia thành ba mươi cặp. Mỗi cặp là hai năm liền nhau: năm đầu mang can dương, năm sau mang can âm. Cả cặp dùng chung một nạp âm, tức một hành kèm một hình ảnh riêng. Bính là can dương, Đinh là can âm, nên Bính Tý và Đinh Sửu đi thành một cặp.
Người xưa giải thích tên gọi dựa vào sức nước ở hai chi Tý, Sửu. Tý ứng với tháng Mười Một âm lịch, giữa mùa đông, lúc nước mạnh nhất trong năm. Sửu ứng với tháng Chạp, cuối mùa đông, khi khí của đất lên thay và sức nước giảm xuống. Nước vừa đến lúc mạnh đã quay sang yếu, nên không thành sông lớn được. Nó chỉ còn là dòng nước chảy dưới khe, vì thế cặp năm này mang tên Giản Hạ Thủy.
Bạn cũng nên để ý: hành của nạp âm không trùng với hành của can. Bính, Đinh thuộc Hỏa, còn Giản Hạ Thủy lại thuộc Thủy. Nạp âm là cách xếp hành cho cả cặp can chi, nên không thể đoán mệnh qua hành của can.
Tính cách theo quan niệm dân gian
Theo quan niệm dân gian, người mệnh Giản Hạ Thủy mang nét của dòng nước khe. Họ kín đáo và bền bỉ, gặp đá thì đi vòng chứ ít khi húc thẳng. Họ thường nghĩ kỹ rồi mới nói, và làm việc tốt nhất khi được yên tĩnh.
Ví dụ đời thường: trong một nhóm làm việc, người mang nét này hay là người ngồi gom ý của mọi người, nhắc việc còn sót, chỉnh cho mọi thứ khớp nhau. Họ ít khi giành phần nói to, nhưng việc qua tay họ thường trôi chảy. Ở nhà, họ là người nhớ ngày giỗ, ngày sinh nhật của cả họ.
Mặt cần để ý cũng từ hình ảnh ấy mà ra. Khe nhỏ thì dễ bị lấp, dễ đổi dòng. Người xưa cho rằng người mệnh này có lúc hay lo, dễ chiều theo ý người khác, ngại va chạm nên giữ chuyện trong lòng. Đó là nét chung theo quan niệm dân gian. Tính cách thật của mỗi người còn do cả lá số, gia đình và cách sống.
Hợp và khắc
Hợp nhất là mệnh Kim, vì Kim sinh Thủy theo vòng tương sinh. Người xưa giải thích: kim loại nung chảy thì thành thể lỏng, và hơi nước hay đọng lại trên mặt kim loại lạnh. Vì thế người mệnh Kim được xem là nguồn nuôi dòng nước khe.
Cùng mệnh Thủy thì hòa. Hai dòng nước gặp nhau nhập làm một, không bên nào lấn bên nào, nên dễ hiểu tính nhau.
Với mệnh Mộc, Thủy sinh Mộc, nước nuôi cây. Quan hệ này vẫn tốt, nhưng bạn là bên cho đi. Trong làm ăn hay gia đình, bạn thường là người đỡ, người lo cho bên kia.
Khắc bạn là mệnh Thổ, vì đất đắp đê chặn nước, đất lở lấp khe. Bạn khắc mệnh Hỏa, vì nước dập lửa. Theo tương khắc, khắc nghĩa là kiềm chế nhau. Người xem tuổi thường dè chừng hai cặp này, nhưng khắc chưa hẳn là xấu, vì trong làm ăn đôi khi cần có người giữ mình lại.
Dùng trong đời sống
Màu sắc: người mệnh Giản Hạ Thủy hay chọn đen, xanh dương (màu hành Thủy), cùng trắng, xám, ánh bạc (màu hành Kim, hành sinh ra Thủy). Màu nên dùng ít là vàng, nâu, màu đất, vì đó là màu hành Thổ, hành khắc Thủy. Bạn có thể áp vào quần áo, ốp điện thoại hay màu sơn phòng. Nếu không thích màu nào thì cũng không cần ép mình.
Hướng: hướng Bắc thuộc hành Thủy, hướng Tây thuộc hành Kim. Khi được chọn, nhiều người mệnh Thủy thích kê bàn làm việc hay đầu giường theo hai hướng này. Đây là cách chọn cho yên tâm, không quyết định việc thành hay bại.
Chọn tuổi làm ăn, cưới hỏi: mệnh nạp âm chỉ là một phần. Người xem tuổi còn xét con giáp. Tuổi Tý hợp Sửu theo lục hợp (cặp sáu hợp), hợp Thân, Thìn theo tam hợp (bộ ba hợp), và xung Ngọ. Tuổi Sửu hợp Tý, hợp Tỵ, Dậu, và xung Mùi. Hai người khác mệnh nạp âm vẫn có thể hợp nhau về con giáp, và ngược lại.
Một điều thật thà: mệnh năm sinh chỉ là một lớp. Nó lấy từ hai chữ của năm sinh trong tám chữ của lá số. Muốn biết mình thật sự thiếu hay thừa hành gì, bạn cần xem cả lá số tám chữ (Bát Tự), gồm can chi của năm, tháng, ngày và giờ sinh.
Điều ít người để ý
Năm sinh tính theo năm âm lịch. Người sinh tháng 1 hoặc tháng 2 dương lịch năm 1996 mà trước Tết Bính Tý thì vẫn thuộc năm Ất Hợi, mệnh Sơn Đầu Hỏa. Ngược lại, người sinh đầu năm 1998 trước Tết Mậu Dần vẫn thuộc năm Đinh Sửu, mệnh Giản Hạ Thủy.
Cùng tuổi Tý chưa hẳn cùng mệnh. Tuổi Tý có năm nạp âm khác nhau: Giáp Tý là Hải Trung Kim, Bính Tý là Giản Hạ Thủy, Mậu Tý là Tích Lịch Hỏa, Canh Tý là Bích Thượng Thổ, Nhâm Tý là Tang Đố Mộc. Người sinh 1996 và người sinh 2008 cùng tuổi Tý, nhưng một người mệnh Thủy, một người mệnh Hỏa.
Bính Tý và Đinh Sửu cùng mệnh, mà Tý với Sửu lại là một cặp lục hợp. Hai người sinh 1996 và 1997 vừa cùng mệnh nạp âm vừa hợp con giáp. Trong ba mươi cặp năm, chỉ những cặp mang chi Tý, Sửu hoặc Ngọ, Mùi mới trùng hợp như vậy.
Phân biệt, đừng nhầm
Giản Hạ Thủy với Đại Khê Thủy: cả hai đều là nước khe suối. Giản Hạ Thủy là dòng nước nhỏ dưới khe (1996, 1997). Đại Khê Thủy là khe lớn, suối lớn, nơi nhiều dòng nhỏ đổ về (1974, 1975).
Giản Hạ Thủy với Tuyền Trung Thủy: Tuyền Trung Thủy là mạch nước từ lòng đất lên, như nước giếng (2004, 2005). Giản Hạ Thủy là nước đã chảy lộ thiên trong khe núi.
Giản Hạ Thủy với Tích Lịch Hỏa: cùng hai con giáp Tý, Sửu nhưng khác can. Mậu Tý, Kỷ Sửu (1948, 1949, 2008, 2009) là Tích Lịch Hỏa, lửa sấm sét, thuộc hành Hỏa. Xét riêng mệnh nạp âm thì Thủy khắc Hỏa, dù cùng con giáp.
Câu hỏi thường gặp
Giản Hạ Thủy sinh năm nào?
Giản Hạ Thủy gồm năm Bính Tý (1936, 1996) và Đinh Sửu (1937, 1997), tính theo năm âm lịch. Người sinh tháng 1, 2 dương lịch trước Tết thì tính theo năm âm trước đó.
Giản Hạ Thủy hợp màu gì?
Hợp đen, xanh dương (màu hành Thủy) và trắng, xám, ánh bạc (màu hành Kim, hành sinh ra Thủy). Nên dùng ít vàng, nâu, màu đất vì thuộc hành Thổ, hành khắc Thủy.
Giản Hạ Thủy hợp mệnh gì?
Hợp mệnh Kim vì Kim sinh Thủy, và hòa với mệnh Thủy. Mệnh Mộc cũng thuận vì Thủy sinh Mộc, nhưng người mệnh Thủy là bên cho đi.
Giản Hạ Thủy khắc mệnh gì?
Giản Hạ Thủy khắc mệnh Hỏa vì nước dập lửa, và bị mệnh Thổ khắc vì đất ngăn nước. Khi xem tuổi, nên xét thêm con giáp và cả lá số.
Sinh năm 1996 mệnh gì?
Sinh năm 1996 là tuổi Bính Tý, mệnh Giản Hạ Thủy, hành Thủy. Nếu sinh tháng 1, 2 dương lịch trước Tết thì thuộc năm Ất Hợi, mệnh Sơn Đầu Hỏa.
Sinh năm 1997 mệnh gì?
Sinh năm 1997 là tuổi Đinh Sửu, mệnh Giản Hạ Thủy, hành Thủy. Nếu sinh đầu năm dương lịch trước Tết thì thuộc năm Bính Tý, vẫn là Giản Hạ Thủy.
Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong
Ứng vào việc của bạn
Ngũ hành trong lá số của bạn
Mệnh năm sinh chỉ lấy từ năm sinh, tức hai trong tám chữ. Lập lá số tám chữ để thấy hành nào đang vượng, hành nào đang thiếu trong đời bạn.
- Tám chữ can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh
- Hành nào vượng, hành nào thiếu trong lá số
- Can chi của bạn hợp, xung với những tuổi nào
- Lập lá số miễn phí, đọc luận giải chuyên sâu khi cần
