Bỏ qua trình đơn

Ngũ hành

Ngũ hành tương khắc

Là gì

Ngũ hành tương khắc là vòng năm hành kiềm chế nhau: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc. Khắc là giữ cho một hành không lấn quá mức. Khắc vừa phải giúp mọi thứ cân bằng, khắc quá mới thành hại.

Tra nhanh

Mộc khắc Thổ
rễ cây xuyên đất, hút chất của đất
Thổ khắc Thủy
đất đắp đê ngăn nước
Thủy khắc Hỏa
nước dập lửa
Hỏa khắc Kim
lửa nung chảy kim loại
Kim khắc Mộc
dao rìu chặt cây
Quy luật
mỗi hành khắc hành đứng cách mình một bậc trên vòng sinh
Màu kỵ theo mệnh
màu của hành khắc mình
Khắc ngược
bên bị khắc quá mạnh thì bên khắc bị tổn

Hình tượng và tên gọi

Chữ khắc nghĩa là chế ngự, kìm lại. Người xưa ví tương khắc như người giữ trật tự, không để ai lấn ai. Hành khắc mình là hành giữ mình trong khuôn. Hành mình khắc là hành mình phải giữ.

Trên vòng tương sinh Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy, mỗi hành khắc hành đứng cách mình một bậc. Mộc bỏ qua Hỏa để khắc Thổ. Hỏa bỏ qua Thổ để khắc Kim. Nối các đường khắc lại sẽ thành một ngôi sao năm cánh nằm trong vòng tròn.

Vì sao lại như vậy

Mộc khắc Thổ: rễ cây đâm xuyên đất, hút chất màu của đất. Đất trồng cây lâu năm mà không bồi thì bạc màu.

Thổ khắc Thủy: đất đắp đê chặn được nước, đất khô hút được nước.

Thủy khắc Hỏa: nước dập được lửa. Hỏa khắc Kim: lửa nung chảy được kim loại. Kim khắc Mộc: dao, rìu, cưa chặt được cây.

Hành nằm giữa hai bên khắc nhau luôn là con của bên khắc và mẹ của bên bị khắc. Giữa Kim và Mộc là Thủy, vì Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc. Khi Kim gặp Mộc mà có Thủy đứng giữa, thế khắc dịu đi, người xưa gọi là thông quan.

Mặt khác, Mộc sinh Hỏa, Hỏa quay lại khắc Kim. Bên nào khắc quá tay sẽ bị con của bên kia kìm lại. Vòng tự cân này trong ngũ hành gọi là chế hóa.

Hợp và khắc

Khắc để thành. Kim có lửa rèn mới thành dao, thành chuông. Cây được cắt tỉa mới thẳng, mới thành gỗ dùng được. Nước có đê giữ mới chảy đúng dòng. Đất có rễ cây giữ mới không xói lở. Lửa có nước kìm mới không cháy lan.

Khắc thì cả hai bên đều hao. Bên bị khắc yếu đi, nhưng bên khắc cũng tốn sức: chặt nhiều cây thì dao cùn.

Khắc quá mức thì hại. Nếu bên bị khắc quá mạnh thì còn khắc ngược lại, như gỗ quá cứng làm mẻ lưỡi dao. Người xưa gọi đó là phản khắc.

Khắc được hay không còn tùy mùa. Mùa xuân Mộc vượng, Kim ở bậc tù, nên Kim khó khắc nổi Mộc. Mùa thu thì ngược lại, Kim vượng, Mộc ở bậc tử.

Dùng trong đời sống

Màu kỵ: màu kỵ của một mệnh là màu của hành khắc nó. Mệnh Kim kỵ đỏ, hồng, tím, cam (Hỏa). Mệnh Thủy kỵ vàng, nâu, màu đất (Thổ). Mệnh Mộc kỵ trắng, xám, ánh bạc (Kim). Mệnh Hỏa kỵ đen, xanh dương (Thủy). Mệnh Thổ kỵ xanh lá (Mộc).

Xem tuổi: dân gian ngại hai mệnh khắc nhau. Nhưng đó chỉ là một lớp. Còn phải xem con giáp, và cả hai lá số. Hai mệnh khắc nhau không đủ là lý do để bỏ một mối duyên hay một người cộng sự tốt.

Lá số tám chữ (Bát Tự): hành khắc can ngày sinh, ở mức vừa phải, là thứ giữ mình trong khuôn phép. Khi can ngày quá mạnh, hành khắc nó lại là thứ cần. Chỉ khi can ngày đã yếu mà còn bị khắc nặng mới là điều cần để ý.

Nói thật: mệnh năm sinh chỉ lấy từ cặp can chi năm sinh, tức hai trong tám chữ của lá số. Hai người mệnh khắc nhau vẫn có thể có lá số bổ cho nhau. Muốn biết thật, phải xem cả lá số tám chữ.

Điều ít người để ý

Khắc không đồng nghĩa với xung. Xung là quan hệ giữa hai con giáp đứng đối diện nhau trên vòng mười hai chi, gọi là lục xung. Tý Ngọ xung là nước gặp lửa, đúng với Thủy khắc Hỏa. Nhưng Thìn Tuất xung, Sửu Mùi xung thì cả hai bên đều là Thổ, chẳng hành nào khắc hành nào.

Trong nhóm tứ hành xung Dần, Tỵ, Thân, Hợi, cặp Dần với Hợi lại là lục hợp, dù cũng có lục phá. Dần thuộc Mộc, Hợi thuộc Thủy, là Thủy sinh Mộc chứ không khắc.

Màu kỵ chỉ tính theo hành khắc mình. Màu của hành mình khắc không bị coi là kỵ: mệnh Kim khắc Mộc, nhưng xanh lá không nằm trong màu kỵ của mệnh Kim.

Phân biệt, đừng nhầm

Tương khắc khác tương hình, lục hại, lục phá. Ba thứ sau là quan hệ giữa các con giáp, còn tương khắc là quan hệ giữa các hành.

Tương khắc khác phản khắc. Tương khắc là bên khắc kìm bên bị khắc, đúng chiều vòng khắc. Phản khắc là bên bị khắc quá mạnh nên làm tổn ngược bên khắc.

Câu hỏi thường gặp

Ngũ hành tương khắc là gì?

Là vòng năm hành kiềm chế nhau: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc. Khắc vừa phải giúp cân bằng, khắc quá mới hại.

Vì sao Kim khắc Mộc?

Vì dao, rìu, cưa làm bằng kim loại chặt được cây. Cây cắt tỉa vừa phải lại mọc đẹp hơn, nên khắc vừa phải cũng có ích.

Mệnh khắc nhau có lấy nhau được không?

Được. Mệnh năm khắc nhau chỉ là một lớp trong xem tuổi. Người xưa còn xem con giáp, cả lá số, và quan trọng nhất là cách hai người sống với nhau.

Mệnh Hỏa khắc mệnh gì?

Hỏa khắc Kim, nên mệnh Hỏa khắc mệnh Kim. Còn mệnh Hỏa bị mệnh Thủy khắc.

Tương khắc có phải lúc nào cũng xấu?

Không. Khắc vừa phải giúp cân bằng, như lửa rèn thép thành dao. Chỉ khắc quá mức mới thành hại.

Thủy khắc Hỏa hay Hỏa khắc Thủy?

Thủy khắc Hỏa, vì nước dập lửa. Nhưng lửa quá lớn mà nước quá ít thì nước bị đun cạn, gọi là khắc ngược.

Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong

Ứng vào việc của bạn

Ngũ hành trong lá số của bạn

Mệnh năm sinh chỉ lấy từ năm sinh, tức hai trong tám chữ. Lập lá số tám chữ để thấy hành nào đang vượng, hành nào đang thiếu trong đời bạn.

  • Tám chữ can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh
  • Hành nào vượng, hành nào thiếu trong lá số
  • Can chi của bạn hợp, xung với những tuổi nào
  • Lập lá số miễn phí, đọc luận giải chuyên sâu khi cần