Ngũ hành
Ngũ hành phản sinh, phản khắc
Là gì
Phản sinh là khi sinh quá nhiều mà hóa hại, như nước nhiều quá thì cây trôi. Phản khắc là khi bên bị khắc quá mạnh nên bên khắc bị tổn, như gỗ quá cứng làm mẻ lưỡi dao. Hai luật này cho thấy sinh khắc chỉ đúng khi hai bên vừa sức.
Tra nhanh
- Phản sinh
- sinh quá nhiều, bên được sinh bị hại
- Sinh quá hao mẹ
- con quá nhiều, bên sinh bị rút kiệt
- Phản khắc
- bên bị khắc quá mạnh, bên khắc bị tổn
- Thủy nhiều, Mộc trôi
- nước quá nhiều, cây bị cuốn
- Thổ nhiều, Kim vùi
- đất quá dày, kim loại bị chôn
- Mộc cứng, Kim mẻ
- gỗ quá cứng, dao bị mẻ
- Kim nhiều, Hỏa tắt
- sắt quá nhiều, lửa nhỏ bị dập
- Gốc của luật
- sinh khắc phải xét mạnh yếu hai bên
Hình tượng và tên gọi
Phản là ngược lại. Phản sinh là sinh mà thành hại. Phản khắc là khắc mà bị khắc lại. Người xưa đúc các trường hợp này thành những câu bốn chữ dễ nhớ, như Thủy đa Mộc phiêu (nước nhiều gỗ trôi), Mộc kiên Kim khuyết (gỗ cứng dao mẻ).
Hình ảnh đời thường rất gần: tưới cây quá tay thì úng rễ, chặt gỗ lim bằng dao mỏng thì mẻ dao. Không cần học huyền học cũng thấy những điều này đúng. Luật của ngũ hành chỉ gom chúng lại cho có thứ tự.
Vì sao lại như vậy
Vòng tương sinh và vòng tương khắc mô tả chiều tác động khi hai bên cân sức. Khi một bên quá mạnh hoặc quá yếu, chiều tác động đổi đi. Đó là gốc của phản sinh, phản khắc.
Phản sinh, mẹ quá nhiều làm hại con. Thổ sinh Kim, nhưng Thổ đa Kim mai: đất quá dày thì kim loại bị vùi, không ai thấy. Hỏa sinh Thổ, nhưng Hỏa đa Thổ tiêu: lửa quá lớn thì đất cháy khô. Mộc sinh Hỏa, nhưng củi chất quá nhiều thì lửa bị đè nghẹt, khói nhiều hơn lửa. Thủy sinh Mộc, nhưng Thủy đa Mộc phiêu: nước quá nhiều thì cây úng rễ, trôi theo dòng. Kim sinh Thủy, nhưng Kim đa Thủy trọc: kim loại quá nhiều thì nước đục.
Sinh quá hao mẹ, con quá nhiều làm kiệt mẹ. Kim sinh Thủy, nhưng nước quá nhiều thì kim loại chìm mất. Thủy sinh Mộc, nhưng cây quá nhiều thì nước cạn. Mộc sinh Hỏa, nhưng lửa quá lớn thì gỗ cháy rụi. Hỏa sinh Thổ, nhưng đất quá nhiều thì lửa bị lấp tối. Thổ sinh Kim, nhưng đào kim loại quá nhiều thì đất bị rút rỗng.
Phản khắc, bên bị khắc quá mạnh làm tổn bên khắc. Kim khắc Mộc, nhưng Mộc kiên Kim khuyết: gỗ quá cứng thì dao mẻ. Mộc khắc Thổ, nhưng đất quá dày thì rễ không xuyên nổi, cây gãy. Thổ khắc Thủy, nhưng nước quá lớn thì đê vỡ, đất trôi. Thủy khắc Hỏa, nhưng lửa quá lớn thì chút nước bị đun cạn. Hỏa khắc Kim, nhưng sắt quá nhiều thì đốm lửa nhỏ bị dập tắt.
Hợp và khắc
Phản khắc hay xảy ra khi bên khắc đang suy theo mùa. Mùa xuân Mộc vượng, Kim ở bậc tù, Kim muốn khắc Mộc mà dễ bị mẻ. Mạnh yếu theo mùa được chia năm bậc, gọi là vượng suy theo mùa.
Ngược lại, bên bị khắc mà yếu sẵn thì gặp khắc càng khốn. Kim yếu gặp lửa lớn thì chảy tan. Mộc yếu gặp dao thì gãy. Thủy yếu gặp đất thì bị lấp. Thổ yếu gặp cây thì bị xói lở. Hỏa yếu gặp nước thì tắt.
Cách gỡ theo lối cổ: hành quá mạnh thì cho nó sinh ra hành khác để xả bớt. Kim mạnh gặp Thủy thì bớt sắc. Thủy mạnh gặp Mộc thì bớt thế. Mộc mạnh gặp Hỏa thì bớt cứng. Hỏa mạnh gặp Thổ thì bớt nóng. Thổ mạnh gặp Kim thì bớt ứ.
Dùng trong đời sống
Trong lá số tám chữ (Bát Tự), luật này nhắc rằng thấy thiếu hành nào chưa chắc đã bù hành ấy. Nếu một hành đã quá mạnh, thêm hành sinh cho nó chỉ làm lệch thêm. Người xem thường tìm hành để xả bớt hoặc kìm lại.
Xem tuổi theo mệnh năm: hai mệnh tương sinh chưa chắc lúc nào cũng tốt, hai mệnh tương khắc chưa chắc lúc nào cũng xấu. Mệnh Kim gặp mệnh Hỏa là Hỏa khắc Kim, nhưng dân gian vẫn nói vàng thật không sợ lửa.
Nói thật: mệnh năm sinh chỉ là hai trong tám chữ của lá số. Có thừa thiếu thật hay không, sinh có thành hại, khắc có đảo chiều hay không, phải xem cả lá số tám chữ mới biết.
Đời thường cũng vậy. Giúp quá tay thì người được giúp ỷ lại. Ép quá mạnh vào chỗ cứng thì mình gãy trước.
Điều ít người để ý
Phản sinh có hai chiều. Chiều thứ nhất: mẹ quá nhiều, con bị hại, như nước nhiều cây trôi. Chiều thứ hai: con quá nhiều, mẹ bị rút kiệt, như cây nhiều nước cạn.
Khắc ngược không làm hai hành đổi chỗ trong vòng khắc. Kim vẫn là hành khắc Mộc. Chỉ là trong một hoàn cảnh cụ thể, Mộc quá mạnh nên Kim bị tổn.
Cùng một lượng nước, với cây đang khô là nuôi, với cây đã úng là hại. Muốn biết sinh hay hại phải so hai bên, không nhìn riêng một bên.
Phân biệt, đừng nhầm
Phản khắc khác tương khắc thường. Tương khắc là bên khắc kìm bên bị khắc, đúng chiều vòng khắc. Phản khắc là bên bị khắc quá mạnh làm hại ngược bên khắc.
Đông y cổ gọi khắc quá mức là tương thừa, khắc ngược là tương vũ. Đó là cách gọi trong nghề thuốc, cùng một ý với phản khắc ở đây.
Sinh quá hao mẹ khác với chuyện sinh cho người khác thì hao mình ở mức bình thường. Hao bình thường thì hồi lại được. Sinh quá hao mẹ là khi sự hao ấy vượt sức, bên sinh kiệt đi.
Câu hỏi thường gặp
Ngũ hành phản sinh là gì?
Là khi sinh quá nhiều mà hóa hại. Ví dụ Thủy sinh Mộc, nhưng nước quá nhiều thì cây úng rễ, trôi đi.
Ngũ hành phản khắc là gì?
Là khi bên bị khắc quá mạnh nên bên khắc bị tổn. Ví dụ Kim khắc Mộc, nhưng gỗ quá cứng thì dao mẻ.
Thủy đa Mộc phiêu nghĩa là gì?
Nghĩa là nước nhiều thì gỗ trôi. Thủy vốn sinh Mộc, nhưng sinh quá mức thì lại hại Mộc.
Mộc kiên Kim khuyết nghĩa là gì?
Nghĩa là gỗ cứng thì dao mẻ. Kim vốn khắc Mộc, nhưng Mộc quá mạnh thì Kim bị tổn ngược.
Hỏa có khắc được Thủy không?
Bình thường Thủy khắc Hỏa. Nhưng lửa quá lớn mà nước quá ít thì nước bị đun cạn, đó là phản khắc.
Vì sao cần biết phản sinh, phản khắc?
Vì sinh khắc không cố định là tốt hay xấu. Phải so mạnh yếu hai bên mới biết sinh có lợi hay hại, khắc có thành hay đảo chiều.
Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong
Ứng vào việc của bạn
Ngũ hành trong lá số của bạn
Mệnh năm sinh chỉ lấy từ năm sinh, tức hai trong tám chữ. Lập lá số tám chữ để thấy hành nào đang vượng, hành nào đang thiếu trong đời bạn.
- Tám chữ can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh
- Hành nào vượng, hành nào thiếu trong lá số
- Can chi của bạn hợp, xung với những tuổi nào
- Lập lá số miễn phí, đọc luận giải chuyên sâu khi cần
