Ngũ hành
Ngũ hành vượng suy theo mùa
Là gì
Ngũ hành vượng suy theo mùa là mức mạnh yếu của mỗi hành trong từng mùa, chia năm bậc: vượng, tướng, hưu, tù, tử. Hành cùng mùa thì vượng, như Mộc mùa xuân. Hành bị hành của mùa khắc thì tử, như Thổ mùa xuân.
Tra nhanh
- Mùa xuân
- Mộc vượng, Hỏa tướng, Thủy hưu, Kim tù, Thổ tử
- Mùa hạ
- Hỏa vượng, Thổ tướng, Mộc hưu, Thủy tù, Kim tử
- Mùa thu
- Kim vượng, Thủy tướng, Thổ hưu, Hỏa tù, Mộc tử
- Mùa đông
- Thủy vượng, Mộc tướng, Kim hưu, Thổ tù, Hỏa tử
- Cuối mỗi mùa (tứ quý)
- Thổ vượng, Kim tướng, Hỏa hưu, Mộc tù, Thủy tử
- Thứ bậc
- vượng mạnh nhất, rồi tướng, hưu, tù, tử yếu nhất
- Tháng âm lịch
- xuân tháng Giêng, Hai, Ba; hạ tháng Tư, Năm, Sáu; thu tháng Bảy, Tám, Chín; đông tháng Mười, Mười Một, Chạp
- Tháng Thổ vượng
- tháng Ba, tháng Sáu, tháng Chín, tháng Chạp
Hình tượng và tên gọi
Vượng là thịnh, đang làm chủ. Hành vượng giống người đang nắm việc, sức mạnh nhất.
Tướng là phò tá, như quan tể tướng giúp vua. Hành tướng được hành làm chủ sinh cho, sức đang lên.
Hưu là nghỉ. Hành hưu vừa sinh ra hành làm chủ, xong việc thì lui về nghỉ, sức đã giảm.
Tù là bị giam. Hành tù vốn khắc hành làm chủ, nhưng hành làm chủ đang mạnh nên khắc không nổi, như người muốn ra tay mà bị trói.
Tử là chết, ở đây nghĩa là yếu nhất. Hành tử bị hành làm chủ khắc thẳng, không ngóc lên được. Chữ tử chỉ mức sức của hành, không nói chuyện sống chết của người.
Vì sao lại như vậy
Mỗi mùa có một hành làm chủ trong ngũ hành: xuân Mộc, hạ Hỏa, thu Kim, đông Thủy, cuối mỗi mùa là Thổ. Bốn hành còn lại xếp bậc theo quan hệ của nó với hành làm chủ.
Quy luật chỉ có năm câu. Cùng hành với mùa thì vượng. Được hành của mùa sinh cho thì tướng. Sinh ra hành của mùa thì hưu. Khắc hành của mùa thì tù. Bị hành của mùa khắc thì tử.
Lấy mùa xuân làm ví dụ. Mộc làm chủ nên vượng. Mộc sinh Hỏa theo vòng tương sinh, nên Hỏa tướng. Thủy sinh Mộc, đã sinh xong nên Thủy hưu. Kim khắc Mộc theo vòng tương khắc, nhưng Mộc đang thịnh nên Kim tù. Mộc khắc Thổ nên Thổ tử. Áp đúng năm câu ấy cho các mùa khác sẽ ra đủ cả năm mùa.
Thổ vượng ở cuối mỗi mùa vì Thổ không có mùa riêng, nằm ở quãng chuyển mùa. Bốn tháng cuối mùa là tháng Thìn (tháng Ba), tháng Mùi (tháng Sáu), tháng Tuất (tháng Chín), tháng Sửu (tháng Chạp), đều là chi thuộc Thổ.
Có thể hình dung bằng cây cối (Mộc) trong một năm. Mùa xuân cây mạnh nhất (vượng). Mùa hạ lửa làm chủ, cây đã góp củi cho lửa nên lui về nghỉ (hưu). Mùa thu gió heo may, lá rụng, cây yếu nhất (tử). Mùa đông cây được nước nuôi, dưỡng sức chờ xuân (tướng).
Hợp và khắc
Vượng suy gắn với tam hội: ba chi của một mùa hội lại thành một phương. Dần, Mão, Thìn là ba tháng mùa xuân, hội thành phương Mộc. Tỵ, Ngọ, Mùi hội thành phương Hỏa. Thân, Dậu, Tuất hội thành phương Kim. Hợi, Tý, Sửu hội thành phương Thủy.
Vượng suy quyết định sinh khắc có thành hay không. Mùa xuân Kim ở bậc tù, muốn khắc Mộc đang vượng mà không nổi, có khi còn bị mẻ. Hiện tượng khắc ngược này gọi là phản khắc.
Hành vượng quá cũng cần xả bớt, hành suy quá cần được nâng. Điều người xưa hướng tới là cân bằng, càng vượng chưa chắc càng tốt.
Dùng trong đời sống
Trong lá số tám chữ (Bát Tự), tháng sinh cho biết hành nào đang vượng lúc mình ra đời. Người sinh mùa thu có Kim vượng, sinh mùa xuân có Mộc vượng. Đây là một trong những căn cứ đầu tiên để xem can ngày sinh mạnh hay yếu.
Ví dụ can ngày sinh là Bính (Hỏa). Sinh mùa hạ thì Hỏa vượng, can ngày mạnh. Sinh mùa đông thì Hỏa ở bậc tử, can ngày yếu hơn nhiều, người xem sẽ để ý xem lá số có Mộc để sinh cho Hỏa hay không.
Có người ghép mệnh năm sinh với mùa sinh, như mệnh Hỏa mà sinh mùa đông thì cho là yếu. Cách này quá giản lược. Mệnh năm chỉ lấy từ cặp can chi năm sinh, tức hai trong tám chữ. Muốn biết thật mình thiếu hay thừa hành gì, cần xem cả lá số tám chữ.
Trong đời thường, vượng suy nhắc một điều giản dị: cùng một người, cùng một việc, đúng thời thì dễ, trái thời thì khó.
Điều ít người để ý
Mùa ở đây tính theo tiết khí của lịch cổ. Mốc đầu xuân là tiết Lập Xuân, không trùng hẳn với mùng Một Tết. Người sinh sát Tết nên xem kỹ tiết khí.
Thổ không vượng suốt một mùa. Thổ vượng bốn lần trong năm, mỗi lần ở tháng cuối mùa. Vì thế khi chia vượng suy, người xưa tính năm mùa dù năm chỉ có bốn mùa.
Tử là yếu nhất, nhưng không phải hết. Hành tử mùa này sẽ lên lại mùa khác. Mộc tử mùa thu thì sang đông đã lên tướng, sang xuân lại vượng.
Một hành có thể yếu theo mùa nhưng vẫn mạnh trong lá số, nếu lá số có nhiều chữ cùng hành hoặc nhiều hành sinh cho nó. Mùa sinh chỉ là một yếu tố.
Phân biệt, đừng nhầm
Vượng suy theo mùa khác với vòng mười hai giai đoạn trường sinh (như trường sinh, đế vượng, mộ). Một bên chia năm bậc theo mùa. Một bên chia mười hai bậc theo từng địa chi.
Vượng suy của hành khác với chuyện năm nay xung tuổi. Xung tuổi là chuyện con giáp. Hành nào vượng là chuyện mùa.
Câu hỏi thường gặp
Vượng tướng hưu tù tử là gì?
Là năm bậc mạnh yếu của ngũ hành theo mùa. Vượng là mạnh nhất, rồi đến tướng, hưu, tù, và tử là yếu nhất.
Mùa xuân hành nào vượng?
Mùa xuân Mộc vượng, Hỏa tướng, Thủy hưu, Kim tù, Thổ tử.
Mùa thu hành nào vượng?
Mùa thu Kim vượng, Thủy tướng, Thổ hưu, Hỏa tù, Mộc tử.
Mùa hạ và mùa đông hành nào vượng?
Mùa hạ Hỏa vượng, Thổ tướng, Mộc hưu, Thủy tù, Kim tử. Mùa đông Thủy vượng, Mộc tướng, Kim hưu, Thổ tù, Hỏa tử.
Hành Thổ vượng vào mùa nào?
Thổ không có mùa riêng. Thổ vượng ở tháng cuối mỗi mùa, tức tháng Ba, tháng Sáu, tháng Chín và tháng Chạp âm lịch. Lúc ấy Kim tướng, Hỏa hưu, Mộc tù, Thủy tử.
Hành bị tử có phải là xấu không?
Không hẳn. Tử chỉ là mức yếu nhất trong mùa ấy, sang mùa khác hành đó lại lên. Tốt xấu phải xem cả lá số.
Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong
Ứng vào việc của bạn
Ngũ hành trong lá số của bạn
Mệnh năm sinh chỉ lấy từ năm sinh, tức hai trong tám chữ. Lập lá số tám chữ để thấy hành nào đang vượng, hành nào đang thiếu trong đời bạn.
- Tám chữ can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh
- Hành nào vượng, hành nào thiếu trong lá số
- Can chi của bạn hợp, xung với những tuổi nào
- Lập lá số miễn phí, đọc luận giải chuyên sâu khi cần
