Đồ hình cổ
Hà Đồ
Là gì
Hà Đồ là đồ hình số cổ gồm mười số từ 1 đến 10, xếp thành năm cặp theo năm phương: 1 và 6 ở Bắc thuộc Thủy, 2 và 7 ở Nam thuộc Hỏa, 3 và 8 ở Đông thuộc Mộc, 4 và 9 ở Tây thuộc Kim, 5 và 10 ở giữa thuộc Thổ. Tương truyền long mã hiện trên sông Hoàng Hà mang hình này trên lưng.
Tra nhanh
- Gồm
- mười số, từ 1 đến 10
- Phương Bắc
- 1 và 6, hành Thủy
- Phương Nam
- 2 và 7, hành Hỏa
- Phương Đông
- 3 và 8, hành Mộc
- Phương Tây
- 4 và 9, hành Kim
- Ở giữa
- 5 và 10, hành Thổ
- Số sinh
- 1, 2, 3, 4, 5
- Số thành
- 6, 7, 8, 9, 10 (bằng số sinh cộng 5)
- Tổng
- số lẻ 25, số chẵn 30, cộng lại 55
- Gắn với
- Tiên thiên bát quái
Hình tượng và tên gọi
Hà là sông, ở đây chỉ sông Hoàng Hà. Đồ là bức vẽ. Hà Đồ là bức vẽ hiện ra từ sông Hoàng Hà.
Tích truyện kể: thời vua Phục Hy, có con long mã (ngựa rồng) hiện lên trên sông Hoàng Hà. Trên lưng nó có các chấm đen trắng xếp thành từng cụm. Người xưa kể rằng từ hình ấy mà có Tiên thiên bát quái. Đây là truyền thuyết, được kể lại để nói về gốc của các con số, không có chứng tích để kiểm.
Trong hình vẽ, chấm trắng là số lẻ, chấm đen là số chẵn. Mỗi số là một cụm chấm: số 1 là một chấm trắng, số 6 là sáu chấm đen. Số 5 nằm ở tâm, số 10 bao quanh nó. Bốn số 1, 2, 3, 4 nằm vòng trong ở bốn phương. Bốn số 6, 7, 8, 9 nằm vòng ngoài, mỗi số lớn đứng ngay ngoài số nhỏ cùng phương.
Vì sao lại như vậy
Vì sao chia lẻ chẵn: người xưa coi số lẻ là số trời, thuộc dương; số chẵn là số đất, thuộc âm. Đây là cách âm dương đặt lên các con số. Mười số có năm số lẻ, năm số chẵn. Mỗi phương nhận đúng một số lẻ và một số chẵn, tức một dương một âm đi đôi. Trời và đất phải cùng góp phần thì một vật mới thành.
Vì sao có số sinh, số thành: 1 đến 5 là số sinh, là lúc một hành mới nhen lên. 6 đến 10 là số thành, là lúc hành ấy thành hình. Số thành bằng số sinh cộng 5, mà 5 là số của Thổ ở giữa. Ý người xưa: hành nào cũng cần đất làm nền mới thành hình được.
Có câu truyền lại tóm cả năm cặp: trời một sinh Thủy, đất sáu làm cho thành; đất hai sinh Hỏa, trời bảy làm cho thành; trời ba sinh Mộc, đất tám làm cho thành; đất bốn sinh Kim, trời chín làm cho thành; trời năm sinh Thổ, đất mười làm cho thành.
Thứ tự số sinh là Thủy 1, Hỏa 2, Mộc 3, Kim 4, Thổ 5. Đây là thứ tự năm hành trong những bản liệt kê cổ: một là Thủy, hai là Hỏa, ba là Mộc, bốn là Kim, năm là Thổ. Thứ tự này khác thứ tự tương sinh quen thuộc, nên đừng dùng nó để suy ra hành nào sinh hành nào.
Vì sao tổng là 55: các số lẻ 1, 3, 5, 7, 9 cộng lại được 25, là tổng số trời. Các số chẵn 2, 4, 6, 8, 10 cộng lại được 30, là tổng số đất. Cộng cả hai được 55, người xưa gọi là số của trời đất.
Hợp và khắc
Hà Đồ chứa sẵn vòng ngũ hành tương sinh. Bắt đầu từ phương Bắc là Thủy, đi sang phương Đông là Mộc: Thủy sinh Mộc. Từ Đông sang Nam là Hỏa: Mộc sinh Hỏa. Từ Nam vào giữa là Thổ: Hỏa sinh Thổ. Từ giữa ra Tây là Kim: Thổ sinh Kim. Từ Tây về Bắc: Kim sinh Thủy. Vòng khép lại, giống như bốn mùa nối nhau.
Hai số cùng phương luôn cách nhau 5, một lẻ một chẵn. Cặp số trong Hà Đồ vì thế là cặp hợp: âm dương gặp nhau thì thành. Điều này hiện ra ở một chỗ khác. Đánh số mười can theo thứ tự, năm cặp thiên can hợp trùng đúng năm cặp số Hà Đồ: Giáp thứ 1 hợp Kỷ thứ 6, Ất 2 hợp Canh 7, Bính 3 hợp Tân 8, Đinh 4 hợp Nhâm 9, Mậu 5 hợp Quý 10.
Dùng trong đời sống
Hà Đồ là nguồn của con số ngũ hành. Khi người ta nói Thủy số 1 và 6, Hỏa số 2 và 7, Mộc số 3 và 8, Kim số 4 và 9, Thổ số 5 và 10, tất cả lấy từ Hà Đồ. Bạn sẽ gặp các số này ở trang ngũ hành và ở trang từng hành.
Người xưa gắn Hà Đồ với Tiên thiên bát quái, cách xếp tám quái thành bốn cặp đối nhau: trời đối đất, nước đối lửa, núi đối đầm, sấm đối gió. Tám quái ấy chồng lên nhau thành sáu mươi tư quẻ (bát quái và 64 quẻ).
Trong đời sống thường ngày, bạn ít khi phải dùng trực tiếp Hà Đồ. Nó là nền lý thuyết. Biết nó giúp bạn hiểu vì sao các con số và các cặp hợp lại xếp như vậy, thay vì học thuộc lòng. Hà Đồ không dùng để đoán vận hay chọn số đẹp.
Điều ít người để ý
Mỗi phương có một số lẻ và một số chẵn, nhưng vị trí trong ngoài không giống nhau. Ở Bắc và Đông, số lẻ 1, 3 nằm vòng trong, số chẵn 6, 8 nằm vòng ngoài. Ở Nam và Tây thì ngược lại: số chẵn 2, 4 nằm trong, số lẻ 7, 9 nằm ngoài. Âm dương xen nhau, không phương nào thuần một bên.
Số 5 ở giữa là chìa khóa. Không có 5 thì không có số thành, vì mỗi số thành bằng số sinh cộng 5. Đó cũng là lý do Thổ đứng giữa, không riêng phương nào, giống như Thổ không có mùa riêng mà nằm ở cuối mỗi mùa.
Mỗi hành có hai số, một lẻ một chẵn, cũng như mỗi hành có hai can, một dương một âm. Mộc có số 3, 8 và can Giáp, Ất. Kim có số 4, 9 và can Canh, Tân.
Tổng các số Hà Đồ là 55. Tổng các số Lạc Thư, từ 1 cộng tới 9, là 45. Cộng lại vừa tròn 100.
Phân biệt, đừng nhầm
Hà Đồ và Lạc Thư hay đi cùng nhau nên dễ lẫn. Hà Đồ có mười số, xếp thành năm cặp quanh tâm, gắn với Tiên thiên bát quái. Lạc Thư có chín số, xếp thành lưới ba hàng ba cột, mỗi hàng cộng ra 15, gắn với Hậu thiên bát quái và tám hướng của phong thủy nhà ở.
Chỗ khác tinh nhất là hai số 7 và 9. Ở Hà Đồ, 7 thuộc Hỏa ở phương Nam, 9 thuộc Kim ở phương Tây. Ở Lạc Thư, 9 lên phương Nam, 7 sang phương Tây. Nếu vẫn đọc số theo hành của Hà Đồ rồi đi từ Bắc sang Tây, sang Nam, sang Đông, ta gặp lần lượt Thủy, Hỏa, Kim, Mộc: Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc. Vì thế người xưa nói Hà Đồ thiên về sinh, Lạc Thư thiên về khắc.
Câu hỏi thường gặp
Hà Đồ là gì?
Hà Đồ là đồ hình số cổ gồm mười số từ 1 đến 10, xếp thành năm cặp theo năm phương và năm hành. Tương truyền long mã hiện trên sông Hoàng Hà thời vua Phục Hy mang hình này trên lưng.
Số Hà Đồ của ngũ hành là gì?
Thủy 1 và 6 (phương Bắc), Hỏa 2 và 7 (phương Nam), Mộc 3 và 8 (phương Đông), Kim 4 và 9 (phương Tây), Thổ 5 và 10 (ở giữa).
Số sinh, số thành là gì?
Số sinh là 1 đến 5, số thành là 6 đến 10. Mỗi số thành bằng số sinh cộng 5, như 1 cộng 5 thành 6, cùng thuộc Thủy.
Tổng các số Hà Đồ là bao nhiêu?
Tổng là 55. Các số lẻ (số trời) 1, 3, 5, 7, 9 cộng lại 25, các số chẵn (số đất) 2, 4, 6, 8, 10 cộng lại 30.
Hà Đồ và Lạc Thư khác nhau thế nào?
Hà Đồ có mười số chia năm phương, gắn với Tiên thiên bát quái. Lạc Thư có chín số xếp lưới ba nhân ba, mỗi hàng cộng ra 15, gắn với Hậu thiên bát quái.
Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong
Ứng vào việc của bạn
Ngũ hành trong lá số của bạn
Mệnh năm sinh chỉ lấy từ năm sinh, tức hai trong tám chữ. Lập lá số tám chữ để thấy hành nào đang vượng, hành nào đang thiếu trong đời bạn.
- Tám chữ can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh
- Hành nào vượng, hành nào thiếu trong lá số
- Can chi của bạn hợp, xung với những tuổi nào
- Lập lá số miễn phí, đọc luận giải chuyên sâu khi cần
