Quan hệ thiên can
Thiên can hợp và xung
Là gì
Thiên can có năm cặp hợp: Giáp hợp Kỷ hóa Thổ, Ất hợp Canh hóa Kim, Bính hợp Tân hóa Thủy, Đinh hợp Nhâm hóa Mộc, Mậu hợp Quý hóa Hỏa. Có bốn cặp xung: Giáp xung Canh, Ất xung Tân, Bính xung Nhâm, Đinh xung Quý. Mậu và Kỷ không xung với can nào.
Tra nhanh
- Giáp và Kỷ
- hợp, hóa Thổ (Giáp Mộc dương, Kỷ Thổ âm)
- Ất và Canh
- hợp, hóa Kim (Ất Mộc âm, Canh Kim dương)
- Bính và Tân
- hợp, hóa Thủy (Bính Hỏa dương, Tân Kim âm)
- Đinh và Nhâm
- hợp, hóa Mộc (Đinh Hỏa âm, Nhâm Thủy dương)
- Mậu và Quý
- hợp, hóa Hỏa (Mậu Thổ dương, Quý Thủy âm)
- Giáp và Canh
- xung (Mộc với Kim, Đông với Tây)
- Ất và Tân
- xung (Mộc với Kim, Đông với Tây)
- Bính và Nhâm
- xung (Hỏa với Thủy, Nam với Bắc)
- Đinh và Quý
- xung (Hỏa với Thủy, Nam với Bắc)
- Mậu, Kỷ
- không xung với can nào (đứng ở trung tâm)
Hình tượng và tên gọi
Hợp là gặp nhau mà gắn lại, như hai nửa của một đôi. Hóa là biến thành: hai can hợp nhau có thể cùng đổi sang một hành khác. Xung là va nhau, như hai người đứng ở hai đầu đối diện cùng tiến vào giữa.
Ngũ hợp nghĩa là năm cặp hợp. Tứ xung nghĩa là bốn cặp xung. Đây là hai bảng nhỏ trong mười thiên can, hay dùng khi xem tuổi và xem lá số.
Vì sao lại như vậy
Vì sao hợp: xếp mười can theo thứ tự từ Giáp (1) đến Quý (10), mỗi cặp hợp cách nhau đúng năm bậc. Giáp 1 với Kỷ 6, Ất 2 với Canh 7, Bính 3 với Tân 8, Đinh 4 với Nhâm 9, Mậu 5 với Quý 10. Cách nhau năm bậc thì luôn là một can dương với một can âm. Âm dương khác dấu thì hút nhau.
Năm cặp số 1 và 6, 2 và 7, 3 và 8, 4 và 9, 5 và 10 cũng chính là năm cặp số của Hà Đồ, mỗi cặp một số trời, một số đất. Nhiều lối giải cổ lấy sự trùng khớp này làm gốc của ngũ hợp.
Nhìn theo hành, trong mỗi cặp hợp, can dương đều khắc can âm. Giáp (Mộc) khắc Kỷ (Thổ). Canh (Kim) khắc Ất (Mộc). Bính (Hỏa) khắc Tân (Kim). Nhâm (Thủy) khắc Đinh (Hỏa). Mậu (Thổ) khắc Quý (Thủy). Khắc mà vẫn hợp, vì bên khắc là dương, bên bị khắc là âm, hai bên bù cho nhau.
Vì sao hóa ra hành ấy: xếp năm cặp theo thứ tự can, hành hóa ra lần lượt là Thổ, Kim, Thủy, Mộc, Hỏa. Đây đúng là vòng tương sinh: Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa lại sinh Thổ. Một lối giải cổ khác dựa vào tháng Thìn: năm Giáp hoặc Kỷ thì tháng Thìn là Mậu Thìn, can Mậu thuộc Thổ; năm Ất hoặc Canh thì tháng Thìn là Canh Thìn, can Canh thuộc Kim; ba cặp còn lại cũng khớp như vậy.
Vì sao xung: bốn cặp xung đều cùng dấu âm dương và có hành khắc nhau. Canh (Kim) khắc Giáp (Mộc), Tân (Kim) khắc Ất (Mộc), Nhâm (Thủy) khắc Bính (Hỏa), Quý (Thủy) khắc Đinh (Hỏa). Theo thứ tự, hai can xung cách nhau sáu bậc, như Giáp 1 với Canh 7. Quan trọng hơn, hai bên đứng ở hai phương đối diện. Giáp, Ất ở phương Đông đối với Canh, Tân ở phương Tây. Bính, Đinh ở phương Nam đối với Nhâm, Quý ở phương Bắc. Cùng dấu thì đẩy nhau, lại đứng đối đầu, nên gọi là xung.
Mậu, Kỷ thuộc Thổ, đứng ở trung tâm, không có phương đối diện. Vì thế Mậu, Kỷ không nằm trong cặp xung nào.
Hợp và khắc
Khi xem tuổi, người ta ghép can hợp với chi hợp. Hai tuổi vừa can hợp vừa chi lục hợp gọi là thiên hợp địa hợp, nghĩa là trời hợp, đất cũng hợp. Ví dụ Mậu Thìn (1988) với Quý Dậu (1993): Mậu hợp Quý, Thìn hợp Dậu. Hay Đinh Mão (1987) với Nhâm Tuất (1982): Đinh hợp Nhâm, Mão hợp Tuất.
Hai tuổi vừa can xung vừa chi lục xung gọi là thiên khắc địa xung. Ví dụ Giáp Tý (1984) với Canh Ngọ (1990): Giáp xung Canh, Tý xung Ngọ. Hay Ất Sửu (1985) với Tân Mùi (1991).
Tuổi Mậu, Kỷ không có cặp thiên khắc địa xung, vì can không xung. Ví dụ Mậu Thìn (1988) và Giáp Tuất (1994): Thìn xung Tuất, nhưng Mậu với Giáp không nằm trong bốn cặp xung.
Hợp khắc theo năm chỉ là một lớp. Hai tuổi thiên khắc địa xung vẫn có thể sống hòa thuận, và ngược lại. Dân gian dùng các cặp này như một ý tham khảo khi chọn tuổi làm ăn, cưới hỏi.
Dùng trong đời sống
Chọn tuổi: tuổi có can hợp với can mình được dân gian xem là dễ gắn bó. Người tuổi Giáp hợp tuổi Kỷ, tuổi Ất hợp tuổi Canh, tuổi Bính hợp tuổi Tân, tuổi Đinh hợp tuổi Nhâm, tuổi Mậu hợp tuổi Quý. Can của một tuổi là chữ đầu của tên năm, hoặc tra bằng số cuối năm sinh: 4 Giáp, 5 Ất, 6 Bính, 7 Đinh, 8 Mậu, 9 Kỷ, 0 Canh, 1 Tân, 2 Nhâm, 3 Quý.
Tránh xung: nhiều người xem thêm can xung khi chọn tuổi hùn hạp. Ví dụ người Giáp Tý 1984 thường được dặn để ý tuổi Canh Ngọ 1990, vì cả can lẫn chi đều xung. Đây là tục lệ tham khảo, không phải lời phán.
Trong lá số tám chữ (Bát Tự), can hợp là quan hệ quan trọng giữa bốn can năm, tháng, ngày, giờ. Hai can hợp nhau chưa hẳn đã hóa. Người xem còn xét tháng sinh có nâng hành hóa lên hay không. Hợp mà không hóa thì hai can vẫn giữ hành của mình, chỉ quấn lấy nhau.
Muốn biết can hợp, can xung tác động thế nào tới một người cụ thể, cần xem cả lá số tám chữ với đủ giờ, ngày, tháng, năm sinh. Can năm chỉ là một trong bốn can.
Điều ít người để ý
Hai tuổi thiên khắc địa xung luôn cách nhau 6 năm, hoặc 54 năm. Giáp Tý 1984 với Canh Ngọ 1990, Ất Sửu 1985 với Tân Mùi 1991, Bính Dần 1986 với Nhâm Thân 1992 đều cách 6 năm. Ngược lại, cách 6 năm chưa hẳn đã xung cả đôi: Mậu Thìn 1988 và Giáp Tuất 1994 chỉ xung ở chi.
Khắc và xung khác nhau. Giáp (Mộc) khắc Mậu (Thổ), Bính (Hỏa) khắc Canh (Kim), nhưng các cặp này không được gọi là xung, vì hai bên không đứng ở hai phương đối nhau. Xung cần đủ ba điều: cùng dấu, hành khắc nhau và đứng đối phương.
Ba trong năm cặp hợp hóa ra hành mà cả hai bên đều không mang. Bính (Hỏa) hợp Tân (Kim) lại hóa Thủy. Đinh (Hỏa) hợp Nhâm (Thủy) lại hóa Mộc. Mậu (Thổ) hợp Quý (Thủy) lại hóa Hỏa. Chỉ Giáp Kỷ hóa Thổ và Ất Canh hóa Kim là hóa ra hành của một trong hai bên.
Can hợp chưa có nghĩa là cả tuổi hợp. Giáp Tý (1984) và Kỷ Mùi (1979) có can hợp, nhưng Tý với Mùi lại là cặp lục hại.
Phân biệt, đừng nhầm
Ngũ hợp thiên can khác lục hợp địa chi. Can có năm cặp hợp trong mười can. Chi có sáu cặp hợp trong mười hai chi, như Tý hợp Sửu, Dần hợp Hợi. Tên gọi giống nhau nhưng là hai bảng riêng.
Tứ xung thiên can khác tứ hành xung của địa chi. Tứ xung của can là bốn cặp Giáp Canh, Ất Tân, Bính Nhâm, Đinh Quý. Tứ hành xung của chi là ba nhóm bốn chi như Tý, Mão, Ngọ, Dậu, trong đó xung thật chỉ là từng cặp đứng đối diện.
Thiên khắc địa xung là một cặp tuổi cụ thể. Trong vòng sáu mươi năm, mỗi tuổi có đúng một tuổi như vậy, trừ mười hai tuổi Mậu, Kỷ không có.
Câu hỏi thường gặp
Thiên can nào hợp nhau?
Năm cặp: Giáp hợp Kỷ, Ất hợp Canh, Bính hợp Tân, Đinh hợp Nhâm, Mậu hợp Quý. Mỗi cặp là một can dương với một can âm.
Thiên can nào xung nhau?
Bốn cặp: Giáp xung Canh, Ất xung Tân, Bính xung Nhâm, Đinh xung Quý. Mậu và Kỷ không xung với can nào.
Giáp Kỷ hợp hóa gì?
Giáp hợp Kỷ hóa Thổ. Các cặp khác: Ất Canh hóa Kim, Bính Tân hóa Thủy, Đinh Nhâm hóa Mộc, Mậu Quý hóa Hỏa.
Thiên hợp địa hợp là gì?
Là hai tuổi vừa có can hợp vừa có chi lục hợp. Ví dụ Mậu Thìn (1988) với Quý Dậu (1993), hay Giáp Tý (1984) với Kỷ Sửu (1949, 2009).
Thiên khắc địa xung là gì?
Là hai tuổi vừa có can xung vừa có chi lục xung, như Giáp Tý (1984) với Canh Ngọ (1990). Tuổi Mậu, Kỷ không có cặp này.
Vì sao Mậu Kỷ không xung?
Mậu, Kỷ thuộc Thổ, đứng ở trung tâm, không có can nào ở phương đối diện. Bốn cặp xung đều là Đông đối Tây hoặc Nam đối Bắc.
Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong
Ứng vào việc của bạn
Ngũ hành trong lá số của bạn
Mệnh năm sinh chỉ lấy từ năm sinh, tức hai trong tám chữ. Lập lá số tám chữ để thấy hành nào đang vượng, hành nào đang thiếu trong đời bạn.
- Tám chữ can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh
- Hành nào vượng, hành nào thiếu trong lá số
- Can chi của bạn hợp, xung với những tuổi nào
- Lập lá số miễn phí, đọc luận giải chuyên sâu khi cần
