Trang tổng
Thiên can là gì
Là gì
Thiên can là mười chữ Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, dùng cùng mười hai địa chi để gọi tên năm, tháng, ngày, giờ. Mỗi can mang một hành và một tính âm dương. Can của năm sinh tra nhanh bằng số cuối năm dương lịch: số 4 là Giáp, số 0 là Canh.
Tra nhanh
- Giáp
- Giáp, Mộc dương, năm tận cùng số 4
- Ất
- Ất, Mộc âm, năm tận cùng số 5
- Bính
- Bính, Hỏa dương, năm tận cùng số 6
- Đinh
- Đinh, Hỏa âm, năm tận cùng số 7
- Mậu
- Mậu, Thổ dương, năm tận cùng số 8
- Kỷ
- Kỷ, Thổ âm, năm tận cùng số 9
- Canh
- Canh, Kim dương, năm tận cùng số 0
- Tân
- Tân, Kim âm, năm tận cùng số 1
- Nhâm
- Nhâm, Thủy dương, năm tận cùng số 2
- Quý
- Quý, Thủy âm, năm tận cùng số 3
Hình tượng và tên gọi
Thiên là trời. Can được hiểu là thân cây, còn chi của địa chi là cành. Người xưa ví can chi như một cái cây có thân có cành: mười can gọi là thiên can, can của trời; mười hai chi gọi là địa chi, chi của đất.
Mỗi can có một hình ảnh quen dùng khi xem lá số. Giáp là cây lớn, Ất là cỏ hoa, dây leo. Bính là mặt trời, Đinh là ngọn đèn, ngọn nến. Mậu là núi, là đê cao, Kỷ là đất ruộng vườn. Canh là sắt thép, dao rìu, Tân là vàng bạc đã chế tác. Nhâm là sông lớn, biển cả, Quý là mưa, sương, mạch nước nhỏ.
Theo lối giải cổ, mười can còn là mười chặng sống của cây cỏ: hạt nứt vỏ ở Giáp, mầm nhú lên còn cong ở Ất, rồi lớn, tươi tốt, chín, thu lại, tới Nhâm, Quý là lúc hạt ủ trong đất chờ vòng sau.
Vì sao lại như vậy
Vì sao có mười can: năm hành, mỗi hành chia hai mặt âm dương, năm nhân hai là mười. Can đứng thứ lẻ là dương, thứ chẵn là âm, nên các can đi thành từng đôi cùng hành. Giáp, Ất là Mộc. Bính, Đinh là Hỏa. Mậu, Kỷ là Thổ. Canh, Tân là Kim. Nhâm, Quý là Thủy.
Thứ tự mười can đi theo vòng tương sinh và bốn mùa. Mộc ứng mùa xuân, phương Đông. Hỏa ứng mùa hạ, phương Nam. Thổ ở trung tâm, ứng với cuối mỗi mùa. Kim ứng mùa thu, phương Tây. Thủy ứng mùa đông, phương Bắc. Hết Thủy lại quay về Mộc.
Vì sao số cuối năm cho ra can: can đi vòng mười, mỗi năm tiến một bậc, nên cứ mười năm lại lặp. Năm 1984 là Giáp thì 1994, 2004, 2014 cũng là Giáp. Mọi năm tận cùng bằng 4 đều là năm Giáp. Nhớ một mốc là suy ra cả vòng: 0 Canh, 1 Tân, 2 Nhâm, 3 Quý, 4 Giáp, 5 Ất, 6 Bính, 7 Đinh, 8 Mậu, 9 Kỷ.
Can ghép với địa chi để thành tên năm. Can đi vòng mười, chi đi vòng mười hai, cùng tiến mỗi năm một bước. Phải sáu mươi năm cả hai mới cùng quay về Giáp Tý, gọi là lục thập hoa giáp. Can dương chỉ gặp chi dương, can âm chỉ gặp chi âm, nên có 60 cặp chứ không phải 120.
Hợp và khắc
Giữa các can có hai quan hệ hay được nhắc khi xem tuổi. Ngũ hợp là năm cặp hợp: Giáp hợp Kỷ, Ất hợp Canh, Bính hợp Tân, Đinh hợp Nhâm, Mậu hợp Quý. Tứ xung là bốn cặp xung: Giáp xung Canh, Ất xung Tân, Bính xung Nhâm, Đinh xung Quý. Mậu, Kỷ ở trung tâm nên không xung với can nào. Lý do từng cặp nằm ở trang thiên can hợp và xung.
Can cũng sinh khắc nhau theo ngũ hành. Giáp, Ất (Mộc) sinh Bính, Đinh (Hỏa). Canh, Tân (Kim) khắc Giáp, Ất (Mộc). Hai can cùng hành, như Giáp với Ất, thì không sinh không khắc, chỉ khác nhau ở âm dương.
Khi ghép hai tuổi, người ta xét cả can lẫn chi. Hai tuổi vừa can hợp vừa chi lục hợp gọi là thiên hợp địa hợp, như Mậu Thìn (1988) với Quý Dậu (1993). Hai tuổi vừa can xung vừa chi lục xung gọi là thiên khắc địa xung, như Giáp Tý (1984) với Canh Ngọ (1990).
Dùng trong đời sống
Tra can năm sinh: nhìn số cuối của năm sinh âm lịch. Sinh năm 1990, tận cùng 0, là can Canh; năm ấy là Canh Ngọ. Sinh năm 2003, tận cùng 3, là can Quý; năm ấy là Quý Mùi.
Muốn biết cả chi: lấy năm trừ 4, chia 12, xem số dư. Dư 0 là Tý, 1 Sửu, 2 Dần, 3 Mão, 4 Thìn, 5 Tỵ, 6 Ngọ, 7 Mùi, 8 Thân, 9 Dậu, 10 Tuất, 11 Hợi. Ví dụ 1990 trừ 4 được 1986, chia 12 dư 6, là Ngọ. Ghép với can Canh thành Canh Ngọ.
Can trong lá số tám chữ (Bát Tự): năm, tháng, ngày, giờ sinh mỗi thứ có một cặp can chi, cộng lại là tám chữ, trong đó bốn chữ là can. Can của ngày sinh gọi là nhật chủ, được xem là đại diện cho chính người ấy, như nhật chủ Giáp hay nhật chủ Quý. Can năm chỉ là một trong bốn can.
Âm dương của can năm còn dùng để phân dương nam, âm nữ. Nam sinh năm can dương hoặc nữ sinh năm can âm là thuận. Ngược lại là âm nam, dương nữ.
Nói thật: can năm sinh chỉ là một chữ trong tám chữ. Tính cách hay đường đời của một người không đọc được từ riêng chữ ấy. Muốn xem kỹ thì phải lập đủ lá số với giờ, ngày, tháng, năm sinh.
Điều ít người để ý
Năm tính theo âm lịch. Sinh tháng 1, tháng 2 dương lịch mà trước Tết thì can là của năm trước. Ví dụ sinh ngày 20/01/1985, trước Tết Ất Sửu, thì can năm là Giáp, không phải Ất. Riêng lá số Bát Tự đổi năm ở tiết Lập Xuân, khoảng ngày 4/2 dương lịch, không theo Tết.
Năm tận cùng số chẵn là năm can dương, tận cùng số lẻ là năm can âm. Vì can dương chỉ ghép chi dương, năm tận cùng số chẵn luôn là năm Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân hoặc Tuất. Năm tận cùng số lẻ luôn là năm Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu hoặc Hợi.
Mậu, Kỷ thuộc Thổ, đứng ở trung tâm và ứng với cuối mỗi mùa. Trong mười can, đây là cặp duy nhất không đứng ở một phương riêng, và cũng là cặp duy nhất không có can xung.
Người xưa đếm ngày bằng vòng mười can, mười ngày gọi là một tuần. Chữ thượng tuần, trung tuần, hạ tuần, tức ba chặng mười ngày trong tháng, còn giữ nghĩa cũ ấy.
Phân biệt, đừng nhầm
Can và chi hay bị gọi chung là tuổi, nhưng là hai thứ khác nhau. Con giáp như Chuột, Trâu là chi. Can là chữ đứng trước: Giáp Tý thì Giáp là can, Tý là chi. Cùng tuổi Tý, người sinh 1984 là Giáp Tý, người sinh 1996 là Bính Tý, khác can nên khác mệnh.
Hành của can khác mệnh nạp âm. Năm 1984 can Giáp thuộc Mộc, nhưng mệnh năm sinh là Hải Trung Kim, hành Kim. Mệnh tính theo cả cặp can chi, không theo riêng can.
Hai can cùng hành chỉ khác nhau ở âm dương, nhưng hình ảnh thì khác xa, như cây lớn với cỏ hoa. Mỗi can có trang riêng, nói rõ nghĩa chữ, sáu tuổi mang can ấy và các can hợp, xung.
Câu hỏi thường gặp
Thiên can là gì?
Thiên can là mười chữ Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, dùng cùng địa chi để gọi tên năm, tháng, ngày, giờ. Mỗi can mang một hành và một tính âm dương.
Cách tính thiên can theo năm sinh?
Nhìn số cuối năm sinh âm lịch: 0 Canh, 1 Tân, 2 Nhâm, 3 Quý, 4 Giáp, 5 Ất, 6 Bính, 7 Đinh, 8 Mậu, 9 Kỷ. Ví dụ năm 1995 tận cùng 5 là can Ất.
10 thiên can thuộc hành gì?
Giáp, Ất thuộc Mộc; Bính, Đinh thuộc Hỏa; Mậu, Kỷ thuộc Thổ; Canh, Tân thuộc Kim; Nhâm, Quý thuộc Thủy.
Can nào là can dương, can nào là can âm?
Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là can dương. Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là can âm. Năm tận cùng số chẵn là năm can dương.
Thiên can hợp và xung thế nào?
Năm cặp hợp: Giáp Kỷ, Ất Canh, Bính Tân, Đinh Nhâm, Mậu Quý. Bốn cặp xung: Giáp Canh, Ất Tân, Bính Nhâm, Đinh Quý. Mậu, Kỷ không xung với can nào.
Thiên can và địa chi khác nhau thế nào?
Thiên can có mười chữ, đứng trước. Địa chi có mười hai chữ, chính là mười hai con giáp, đứng sau. Ghép một can với một chi được tên năm, như Giáp Tý.
Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong
Ứng vào việc của bạn
Ngũ hành trong lá số của bạn
Mệnh năm sinh chỉ lấy từ năm sinh, tức hai trong tám chữ. Lập lá số tám chữ để thấy hành nào đang vượng, hành nào đang thiếu trong đời bạn.
- Tám chữ can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh
- Hành nào vượng, hành nào thiếu trong lá số
- Can chi của bạn hợp, xung với những tuổi nào
- Lập lá số miễn phí, đọc luận giải chuyên sâu khi cần
