Khái niệm nền
Âm dương là gì
Là gì
Âm dương là cách người xưa chia mọi sự vật thành hai mặt đi đôi với nhau. Dương là mặt sáng và động, âm là mặt tối và tĩnh, như ngày với đêm, lửa với nước. Hai mặt này đối nhau nhưng không tách rời, và luôn chuyển dần sang nhau. Đây là nền để hiểu ngũ hành, can chi và Kinh Dịch.
Tra nhanh
- Dương
- sáng, nóng, động, hướng lên, hướng ra ngoài
- Âm
- tối, lạnh, tĩnh, lắng xuống, thu vào trong
- Can dương
- Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm (thứ tự lẻ)
- Can âm
- Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý (thứ tự chẵn)
- Chi dương
- Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất
- Chi âm
- Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi
- Số
- số lẻ là dương (số trời), số chẵn là âm (số đất)
- Năm sinh
- năm tận cùng số chẵn là năm can dương, số lẻ là năm can âm
- Hào trong quẻ
- hào dương là vạch liền, hào âm là vạch đứt
- Nam nữ
- nam năm can dương, nữ năm can âm gọi là dương nam, âm nữ (thuận); ngược lại là âm nam, dương nữ
Hình tượng và tên gọi
Chữ Dương (陽) và chữ Âm (陰) có nghĩa gốc là phía có nắng và phía khuất nắng của một ngọn đồi. Cùng một ngọn đồi, sườn đón mặt trời thì ấm và sáng, sườn bên kia thì mát và tối. Người xưa lấy hình ảnh giản dị ấy để gọi hai mặt của mọi sự vật.
Biểu tượng quen thuộc nhất là thái cực đồ: một hình tròn chia hai nửa trắng đen uốn vào nhau như hai con cá. Trong nửa trắng có một chấm đen, trong nửa đen có một chấm trắng. Chỗ nửa này phình to nhất cũng là chỗ nửa kia bắt đầu nhú ra.
Tiếng Việt dùng cặp chữ này hằng ngày: âm lịch và dương lịch, cõi âm và cõi dương, âm trạch là mộ phần và dương trạch là nhà ở. Mặt trăng được gọi là Thái Âm, mặt trời là Thái Dương.
Vì sao lại như vậy
Người xưa nhìn trời đất và thấy mọi thứ đều đi thành cặp: có sáng thì có tối, có lên thì có xuống. Ta chỉ biết thế nào là nóng khi đã từng thấy lạnh. Từ đó người xưa rút ra bốn ý về hai mặt này.
Một là đối nhau. Âm và dương là hai đầu ngược chiều: ngày với đêm, trên với dưới, động với tĩnh. Hai đầu kiềm giữ nhau, không để bên nào lấn hết.
Hai là nương nhau. Không có dương thì cũng không có âm. Người xưa ví như cái cây: cành lá vươn lên trời là dương, rễ ăn xuống đất là âm. Rễ nuôi lá, lá nuôi rễ, mất một bên thì bên kia cũng héo.
Ba là bên này lớn thì bên kia nhỏ. Từ đông sang hè, ngày dài dần, đêm ngắn dần. Từ hè sang đông thì ngược lại. Hai bên thay nhau lên xuống, nhưng tính cả năm vẫn giữ thế cân.
Bốn là tới cực điểm thì đổi chiều. Tháng Mười Một âm lịch có ngày Đông chí, đêm dài nhất năm. Nhưng cũng từ hôm ấy ngày bắt đầu dài ra, người xưa gọi là dương bắt đầu sinh. Tháng Năm âm lịch có ngày Hạ chí, ngày dài nhất năm, và từ đây âm bắt đầu nhen lên. Chấm nhỏ ngược màu trong thái cực đồ nói đúng ý này: trong âm có sẵn mầm dương, trong dương có sẵn mầm âm.
Hợp và khắc
Âm dương giải thích được vì sao trong can chi có cặp hợp, có cặp xung. Quy luật chung: khác dấu thì hút nhau, cùng dấu mà đứng ngược phía thì đẩy nhau.
Năm cặp thiên can hợp đều là một can dương với một can âm: Giáp (dương) hợp Kỷ (âm), Ất (âm) hợp Canh (dương), Mậu (dương) hợp Quý (âm). Bốn cặp can xung thì hai bên cùng dấu: Giáp xung Canh là hai can dương, Ất xung Tân là hai can âm.
Địa chi cũng vậy. Sáu cặp lục hợp đều một dương một âm: Tý (dương) với Sửu (âm), Dần (dương) với Hợi (âm), Ngọ (dương) với Mùi (âm). Sáu cặp lục xung thì cùng dấu: Tý với Ngọ cùng dương, Sửu với Mùi cùng âm, Tỵ với Hợi cùng âm.
Riêng tam hợp là ba chi cùng dấu. Thân, Tý, Thìn đều là chi dương; Hợi, Mão, Mùi đều là chi âm. Tam hợp dựa trên ba chặng sinh ra, mạnh nhất và vào kho của một hành, nên không theo luật khác dấu.
Dùng trong đời sống
Tra âm dương năm sinh: năm dương lịch tận cùng bằng số chẵn là năm can dương, tận cùng bằng số lẻ là năm can âm. Năm 1984 tận cùng số 4 là Giáp, can dương. Năm 1985 tận cùng số 5 là Ất, can âm. Can dương chỉ đi với chi dương, nên năm 1984 là Giáp Tý, không thể là Giáp Sửu. Cách tra đầy đủ có ở trang thiên can.
Dương nam, âm nữ: người ta ghép âm dương của năm sinh với giới tính. Nam sinh năm can dương hoặc nữ sinh năm can âm là thuận, gọi là dương nam, âm nữ. Ngược lại là âm nam, dương nữ. Ví dụ năm 1984 (Giáp): nam là dương nam, nữ là dương nữ. Năm 1985 (Ất): nam là âm nam, nữ là âm nữ. Trong lá số tám chữ (Bát Tự) và lá số Tử Vi, thuận hay ngược quyết định các vận mười năm đi xuôi hay đi ngược.
Kinh Dịch dựng mọi quẻ từ hai vạch: vạch liền là hào dương, vạch đứt là hào âm. Chồng hai vạch được bốn kiểu, gọi là tứ tượng. Chồng ba vạch được tám kiểu, là tám quái. Chồng hai quái được sáu mươi tư quẻ.
Số lẻ là dương, gọi là số trời. Số chẵn là âm, gọi là số đất. Cách chia này là gốc của hai đồ hình số cổ Hà Đồ và Lạc Thư, nơi số lẻ, số chẵn xếp xen nhau quanh các phương.
Âm không xấu, dương không tốt. Điều người xưa tìm là thế cân giữa hai bên, trong thời tiết, nhà ở cũng như trong một lá số.
Điều ít người để ý
Năm tận cùng số chẵn lại là năm can dương, dù theo luật số thì số chẵn là âm. Hai điều này không vướng nhau: số cuối của năm chỉ là mẹo tra, còn âm dương của can tính theo thứ tự trong vòng mười. Giáp đứng thứ nhất, số lẻ, nên là dương.
Âm dương năm sinh tính theo năm âm lịch. Người sinh tháng 1, tháng 2 dương lịch mà trước Tết thì thuộc năm trước. Ví dụ sinh ngày 20/01/1985, trước Tết Ất Sửu, là tuổi Giáp Tý, can dương. Nam sinh ngày ấy là dương nam, không phải âm nam. Lá số Bát Tự thì đổi năm ở tiết Lập Xuân, khoảng ngày 4/2 dương lịch.
Trong âm có dương là điều thấy được ngay trong can chi. Mỗi địa chi đều có can tàng (can ẩn trong chi). Tý là chi dương, nhưng can tàng duy nhất của Tý là Quý, một can âm. Ngọ là chi dương mà bản khí là Đinh, can âm. Ngược lại Tỵ, Hợi là chi âm mà bản khí là Bính, Nhâm, đều là can dương.
Âm lịch của người Việt thật ra là âm dương lịch. Tháng tính theo mặt trăng, còn tiết khí như Lập Xuân, Đông chí tính theo mặt trời. Hai nhịp này lệch nhau, nên thỉnh thoảng phải thêm một tháng nhuận để kéo tháng trăng khớp lại với mùa.
Phân biệt, đừng nhầm
Âm dương và ngũ hành là hai lớp khác nhau. Âm dương chia làm hai, ngũ hành chia làm năm. Hai lớp đan vào nhau: mỗi hành có một can dương và một can âm, như Giáp là Mộc dương, Ất là Mộc âm. Xét cả năm hành, người xưa xếp Mộc, Hỏa về phía dương vì mọc lên, bốc lên; Kim, Thủy về phía âm vì thu lại, chảy xuống; Thổ đứng giữa.
Âm dương của can chi khác chuyện nam nữ. Chi dương không có nghĩa là tuổi của đàn ông. Nữ tuổi Tý vẫn mang chi dương, nam tuổi Sửu vẫn mang chi âm. Dương nam, âm nữ là cách ghép hai thứ này lại, như đã nói ở trên.
Câu hỏi thường gặp
Âm dương là gì?
Âm dương là hai mặt đi đôi của mọi sự vật. Dương gắn với sáng và động, âm gắn với tối và tĩnh. Hai mặt đối nhau, nương nhau và chuyển dần sang nhau, như ngày nối đêm.
Can nào dương, can nào âm?
Can dương: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm. Can âm: Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý. Năm dương lịch tận cùng số chẵn là năm can dương, tận cùng số lẻ là năm can âm.
Chi nào dương, chi nào âm?
Chi dương: Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất. Chi âm: Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi. Can dương chỉ ghép với chi dương, can âm chỉ ghép với chi âm.
Dương nam, âm nữ là gì?
Nam sinh năm can dương hoặc nữ sinh năm can âm gọi là dương nam, âm nữ, được coi là thuận. Ngược lại là âm nam, dương nữ. Ví dụ nam sinh năm 1984 (Giáp) là dương nam, nữ sinh năm 1985 (Ất) là âm nữ.
Số nào là số dương, số nào là số âm?
Số lẻ 1, 3, 5, 7, 9 là số dương, gọi là số trời. Số chẵn 2, 4, 6, 8, 10 là số âm, gọi là số đất.
Âm dương và ngũ hành khác nhau thế nào?
Âm dương chia sự vật làm hai mặt, ngũ hành chia làm năm loại. Mỗi hành lại có âm có dương, như Canh là Kim dương, Tân là Kim âm.
Biên soạn: Ban biên soạn 1Vong
Ứng vào việc của bạn
Ngũ hành trong lá số của bạn
Mệnh năm sinh chỉ lấy từ năm sinh, tức hai trong tám chữ. Lập lá số tám chữ để thấy hành nào đang vượng, hành nào đang thiếu trong đời bạn.
- Tám chữ can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh
- Hành nào vượng, hành nào thiếu trong lá số
- Can chi của bạn hợp, xung với những tuổi nào
- Lập lá số miễn phí, đọc luận giải chuyên sâu khi cần
